HÓM QUÊ-HƯƠNG

Tưởng Niệm

 

Cố nhạc sư Phanxicô Hải Linh

04/10/1920 – 06/01/1988

 

 

Lễ giỗ 20 năm

06 – 01 – 2008 tại Giáo xứ Phanxicô Đakao

(Xin bấm vào để xem một số h́nh ảnh)

Nhân dịp nầy, chúng tôi đă phát hành tại Việt Nam cuốn sách "Chương Tŕnh Huấn Luyện Ca Trưởng II"

kèm theo bộ DVD thực tập điều khiển.

Chúng tôi cũng cho in cuốn "Music Ministry: The Inculturation of Liturgical Vocal Music in Vietnam"

bàn về việc hội nhập văn hóa nhạc phụng vụ Công giáo tại Việt nam,

qua đó chúng tôi t́m về nhạc ngữ dân tộc trong Dân ca Việt Nam, trong Cung Kinh, Cung Sách, Cung Văn trong truyền thống Công giáo Việt Nam, và mẫu mực hội nhập văn hóa trong Âm nhạc của nhạc sư Hải Linh.

 Xin xem bài giới thiệu của GS. TS. Trần Văn Khê 

Xem bài viết về Âm nhạc Hải Linh

Xem một số tác phẩm của Hải Linh

 

ĐÊM NHẠC HẢI LINH (xem h́nh)

30-12-2008

Tóm lược Bài Nói Chuyện của GS.TS Trần Văn Khê

 

Bài Phát Biểu của ĐC Phaolô NGUYỄN VĂN H̉A, Ct. UBTNVN

TOP

 

 

 

Lễ giỗ 10 năm

06-01-1998 tại Nhà thờ Chính ṭa Sai gon

 

 

NỘI DUNG CUỐN TƯỞNG NIỆM

1. Lời nói đầu

2. Bút tích của thầy Hải Linh

3. 10 năm nhớ nhạc sĩ – ca trưởng Hải Linh

4. Đôi lời của Lm. Trưởng Ban Thánh Nhạc

5. Một nén hương tưởng niệm

6. Phỏng vấn tác giả nhạc phẩm bất hủ "Hang Belem"

7. Chị Chết (Nhạc)

8. Điếu văn Ngày vĩnh biệt Hải Linh

9. Nhớ Hải Linh

10. Đưa nhạc vào thơ, một ngón tài hoa của Hải Linh.

11. Tiểu sử cố nhạc sư Phanxicô Hải Linh

 

 

Cùng với tập TƯỞNG NIỆM nầy, chúng tôi cũng thực hiện bộ BĂNG H̀NH đi kèm cuốn Sách CHƯƠNG TR̀NH HUẤN LUYỆN CA TRƯỞNG I (PXB 1139/CXB-QLXB ngày 15-12-79), để kỷ niệm 10 năm ngày Thầy qua đời.

 

 

LỜI NÓI ĐẦU

Có nhiều người hiểu biết về âm nhạc, nhưng ta không gọi tất cả họ là nhạc sĩ. Có nhiều người giảng dạy về âm nhạc, nhưng không phải tất cả họ đều là nhạc sư. Giá trị nghệ thuật của tác phẩm làm thơm danh người nhạc sĩ sáng tác, chứng minh cho tài năng của họ. Người nhạc sĩ tích lũy được nhiều vốn liếng do thiên khiếu và do nghiên cứu học hỏi, lại biết đem vốn ấy ra mà gây lời cho xă hội bằng những tác phẩm nghệ thuật của ḿnh, và nhất là khai phá một hướng đi thích hợp và truyền thụ lại cho hậu thế những xác tín, những phương thế để đạt đến mục tiêu, người nhạc sĩ đó xứng đáng là bậc thầy, bậc "sư", và nhạc sư chính là danh xưng của riêng họ.

Theo ḍng suy nghĩ đó, th́ nhạc sĩ Phanxicô HẢI LINH cũng xứng đáng được gọi là nhạc sư, v́ những đóng góp của nhạc sĩ trong 2 lănh vực sáng tác và tŕnh tấu, được cô đọng lại trong 2 đề sách:

I. LỐI VIẾT THOÁNG MỎNG;

II. LỐI TR̀NH TẤU SỐNG ĐỘNG .

Để thấy phần nào những điều đó, mời quí vị lần xem những trang sách nầy, với những chứng từ của nhạc sư lúc sinh thời, cũng như của một số chứng nhân khác nói về nhạc sư từ sau khi đă qua đời cho đến nay.

Những trang sách tương tự chúng tôi đă thực hiện cách đây 7 năm. Nay nhân dịp giỗ 10 năm của nhạc sư, chúng tôi soạn lại cuốn Tưởng Niệm nầy, cùng với bộ băng vi-đê-ô Ca Trưởng I (Những Bước Khởi Đầu) đi kèm với cuốn sách cùng tên trong bộ Chương tŕnh Huấn luyện Ca trưởng, tức là bộ "Lối Tŕnh Tấu Sống Động", như một lời tri ân sâu xa đối với vị Thầy đă dày công vất vả chỉ giáo cho học tṛ, để chỉ ước mong sao được măi măi TÔN VINH THIÊN CHÚA VÀ TÁN TỤNG QUÊ HƯƠNG.

 

Xuân Thảo – Nam Hải – Thiên Lan
Nhóm QUÊ HƯƠNG

 

 

TOP

 

 

 

DI-CẢO CỦA THẦY HẢI LINH

(trich từ một lá thư gửi về từ Mỹ, đầu tháng 7-1987)

 

Xin đánh lại cho rơ như sau: "Càng về già, càng ít để ư tới nếp sống và lối Tŕnh tấu của Mỹ v́ thiếu cái "Hồn", nên dành rất nhiều giờ chiêm ngưỡng vũ trụ bao la màu nhiệm là cả 1 Trường ca vô cùng vĩ đại do chính Chúa thượng trí đă sáng tác và đang điều khiển.-Càng ngắm càng thấy thêm nét tinh vi do tay Chúa phác họa tuyệt vời, qua gió thổi, mây bay, hoa nở, suối reo. Với tất cả khiêm cung khâm phục, tôi sẽ hy vọng bổ khuyết dần tay nhịp trong tŕnh tấu và giáo khoa về Hợp Ca lư tưởng"

 

 

10 NĂM

NHỚ NHẠC SĨ - CA TRƯỞNG HẢI LINH

(6.1.88 - 6.1.98)

Lê Đ́nh Bảng

 

Vào những ngày tháng này năm ngoái (6.1.96) tôi có cái may mắn t́nh cờ được đi theo anh chị em ca đoàn Quê Hương về hát lễ tại họ đạo Dầu Giây (Xuân Lộc), nhân dịp cộng đoàn xa xôi hẻo lánh này mừng kỷ niệm 100 năm thành lập. Ở giữa chốn "ba quân" với bạt ngàn xanh thẳm rừng cao su, tôi lại được gặp, được nghe, được cảm cái thế giới âm nhạc, ngôn ngữ của Hải Linh qua cách thể hiện mượt mà, "thoáng mỏng" và "sống động" của ca đoàn Quê Hương. Và ở đó, ở Suối Tre, ở Phúc Lâm, ở nhà thờ Đakao, ở xứ Vô Nhiễm, ở xứ Xây Dựng, tôi cũng được làm quen với cha Xuân Thảo, Nữ tu NS Thiên Lan, Ns Nam Hải, Ns Hương Vĩnh, Ns Hải Triều, Ns Trầm Hương.. những thế hệ môn sinh gần gặn, ruột thịt của Hải Linh. Điều nghe, thấy và tiếp cận gần xa ấy có tác dụng làm sáng tỏ thêm h́nh ảnh Hải Linh, người mà tôi chỉ h́nh dung, vẽ vời ra trong trí tưởng tượng của ḿnh. Y hệt cái cảm giác ban đầu ở quê nhà xưa vào mùa Đông giá buốt 1945, tôi đứng co ro ở cuối nhà thờ hát bài "Đêm Đông lạnh lẽo, Chúa sinh ra đời." Nói là nói thế thôi. Thật t́nh là trong 3 năm (1958-1960), khi trọ học ở nhờ Tiểu Chủng viện Phanxicô Xavie Bùi Chu, tôi đă thấy tận mắt con người ấy vào ra, đi lại, tập tành ca hát. Tôi c̣n nhớ khá rơ mấy lần nữa ở nhà cơm Tiểu Chủng viện, tôi thấy "ông Hải Linh" chỉ huy "ca đoàn Hồn Nước" hát lên một số bài do chính ông viết : Ḥ Non Nước, Chinh Phụ ngâm, Cung đàn bạc mệnh, Đà Lạt Trăng mờ và Ḷng Mẹ . Qua đó, tôi lại biết thêm về quá khứ và hiện tại, như văn học dân gian, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, thi hào Nguyễn Du, nhà thơ khổ hạnh Hàn Mặc Tử và nhạc sĩ Y Vân. Khung cảnh đời tu lúc ấy chỉ hé mở cho tôi thấy có vậy về một tài năng. Rồi thời gian, chiến tranh và cơm áo đời thường xô đẩy tôi ra khỏi, mịt mù tăm tối. Bẳng đi cả chục, hai chục năm ǵ đó. T́nh cờ tôi nhận được tấm giấy mời, đâu của anh em ca đoàn Hồn Nước tổ chức lễ cầu hồn cho nhạc sĩ - ca trưởng Hải Linh ở nhà thờ giáo xứ Xây Dựng (Tân B́nh). Tôi bàng hoàng, xúc động. Cả ván lễ, tôi chia trí những đẩu đâu. Bao nhiêu h́nh ảnh, tiếng vọng thuở nào chợt về. Từ những kỷ niệm tuổi thơ c̣n ngô nghê, mở miệng hát "Mẹ ơi, đoái thương xem nước Việt Nam", "Giáo dân bao xiết mừng", "Ngày nay con đến hát khen mừng mẹ chốn Thiên Đàng, dâng ngành Mân Côi" cho đến những bản hợp xướng để đời như "Đây phút thiêng liêng đă khởi đầu... Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt" "Ma-ri-a, linh hồn tôi ớn lạnh" v.v. Sau cái buổi tối hư hư thực thực như mơ ấy, tôi về nhà lần lượt được đọc khá nhiều sách, báo, bài viết về Hải Linh, của nhạc sĩ Phạm Duy, của cha Kim Định, của giáo sư Guy de Léoncourt, Viện trưởng âm nhạc viện César Frank, nơi Hải Linh tŕnh luận án mang tên "Màu sắc nhạc Việt trong b́nh ca - La couleur Vietnamienne dans le chant Grégorien" v.v. Phúc đức cho tôi, chẳng hiểu tại sao mà Đức cha Phao-lô Nguyễn Văn Ḥa và cha Kim Long - những cây đại thụ về Thánh ca VN - lại mở cửa cho tôi vào Ban Thánh nhạc (BTN) VN ? Và cũng không biết ḿnh có t́nh duyên nặng nợ ǵ đă khiến cha Đỗ Xuân Quế, cha Xuân Thảo, cha Nguyễn Hữu Triết - những thành viên cốt cán của BTN giáo phận TpHCM - "rửa tội và ban phép" cho tôi chia sẻ một phần việc nhỏ trong nhà Chúa ? Thế là từ đấy, trong mái nhà yên ả rợp đầy bóng mát của Giáo hội, của giáo phận, "Kẻ - ngoại - đạo" về âm nhạc là tôi - qua tiếp xúc thân quen với nhiều thế hệ linh mục, nhạc sĩ Công giáo, qua nhiều lần vâng lời bề trên đứng ra tổ chức, điều khiển chương tŕnh Hợp xướng và Hội thảo chuyên đề (1996-1997) - đâm ra mê mẩn cái công việc "phác thảo những chân dung Thánh nhạc Thánh ca VN". Dĩ nhiên, ở chặng đường khai phá từ 1945, phải có Hải Linh. Viết về người thật việc thật, không thể phóng đại và tưởng tượng, ngẫu hứng được. Cho nên, bằng dă ngoại thực tế, bằng nghe ngóng những chuyện kể từ những người thân quen, mày ṃ lục lọi các tủ sách đă cổ xưa trong tu hội, nhà ḍng, nhà thờ, tôi đă từng bước khám phá ra sự kỳ diệu của Chúa tác động trên tài hoa của những tên tuổi như Hùng Lân, Thiên Phụng, Hoài Đức, Tâm Bảo, Nguyễn Khắc Xuyên, Duy Tân, Hoàng Phúc v.v. trong nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh. Tôi cũng có đủ chất liệu để viết về nhạc đoàn Sao Mai với Hải Linh, Ngô Duy Linh (Thăng Ca), Vơ Thanh (Vũ Đ́nh Trác), Hồ Khanh (Trần Thái Hiệp) hoặc những Hoàng Kim, Phương Linh, Vinh Hạnh, Huyền Linh, Viết Chung, Kim Long. Đấy mới là lớp tiền bối. Hằng hà sa số những tên tuổi c̣n đang sung sức về sau này sẽ là một hiện tượng đáng phải dày công nghiên cứu, tiếp cận. Riêng đối với nhạc sĩ - ca trưởng Hải Linh - một khi đă đọc lại những nhận định, những bài viết có uy tín của viện César Frank, Phạm Duy, Kim Định, cha Trưởng BTN giáo phận Tp và của các thế hệ môn sinh (qua tập Tưởng Niệm, 1991 ; Một Thời Ca Trưởng, 1994) - có lẽ tôi viết thêm cũng chỉ bằng thừa. Có điều là cho đến nay, Hải Linh và thế giới âm nhạc ngôn ngữ rất riêng của ông đă thực sự chinh phục được một công chúng đông đảo, một công chúng nhạy cảm về cái linh hồn của nhạc Việt, một công chúng có lựa chọn, thật đồng điệu về cơi mơ ước suốt đời ông "Tôn vinh Thiên Chúa và Tán tụng Quê Hương".

 

Khi tôi viết lại những ḍng cảm xúc trào dâng này th́ cơn băo mang tên Kiều diễm Linda vừa mới đi qua mấy tỉnh miền Tây Nam bộ. Vết thương nằm sâu ở Cà Mau, Trà Vinh, Kiên Giang, Bến Tre, Sóc Trăng và nỗi đau th́ nằm sâu ở cơi ḷng của người dân cả nước. No-en sắp về. Thế giới sẽ hát vang Jingle Bell, Silent Holy Night. Và hàng triệu người VN đă thuộc ḷng "Đêm Đông lạnh lẽo, Chúa sinh ra đời". Bài thánh ca bất tử đă choàng lên cổ người nhạc sĩ - ca trưởng Hải Linh ṿng nguyệt quế chói lọi hào quang và hương thơm. Hạt muối nào dám kể công với biển. Vậy nay chuẩn bị mùa tưởng niệm thứ 10, (1988 - 1998), xin mượn lời phát biểu của ngài Lm Chủ tịch Hội nghị Thánh nhạc Hoa Kỳ : "Tôi không có một lời nào xứng đáng hơn để ca tụng tài năng nghệ thuật của Ông. Tất cả đều được đặt dưới bàn tay điêu luyện của Ông..." (trích phát biểu 7.1986 tại Hội nghị Thánh nhạc Hoa Kỳ).

 

Ngoại ô, tháng 11.97

(Trích từ HLMC 25, tr.106-109)

 

TOP

 

 

 

ĐÔI LỜI

của Lm. Trưởng ban Thánh nhạc
Giáo phận Tp HCM

 

 

 

 

Kính thưa Quí cha,

Quí tu sĩ nam nữ,

Quí quyến, Quí thân hữu và môn đệ của Thầy Hải Linh.

 

Tôi được mời tới đây tham dự lễ giỗ 100 ngày, với tư cách là người được Đức Tổng Giám mục cử ra lo việc thánh nhạc cùng với một số các linh mục và giáo dân khác. Tôi xin thay mặt cho Ủy ban Thánh nhạc Giáo phận Thành phố có đôi lời trong dịp lễ giỗ này.

 

Trước hết chúng tôi xin bày tỏ ḷng ngưỡng mộ tài nghệ của Thầy, Thầy là người có thực tài và đă đem tài năng đó ra để phụng sự nền thánh nhạc trong suốt đời Thầy, đặc biệt trong ba thập niên 40, 50 và 60 lúc nền thánh nhạc c̣n trong giai đoạn khai sáng. Thầy là một trong những người có công đầu trong giai đoạn khai sáng ấy và đă đào tạo được một số môn đệ sáng tác ca khúc và điều khiển ca đoàn mà phần đông đều có mặt trong buổi lễ hôm nay. Trong số các môn đệ ấy, có những người đă bắt đầu được biết đến và tỏ ra có khả năng nối được nghiệp Thầy. Đây thật là một phần thưởng vẻ vang cho Thầy.

 

Thứ đến chúng tôi xin cám ơn và ghi nhớ công lao của Thầy. Những lời ca và ḍng nhạc Thầy để lại đă đi vào tâm hồn nhiều người công giáo Việt Nam, tạo ra một thứ âm hưởng khó quên và khơi dậy được những tâm t́nh tôn giáo đơn sơ, nồng nàn, tha thiết.

 

Cuối cùng chúng tôi xin cầu nguyện cho Thầy. Chúng tôi cầu nguyện cho Thầy như cầu nguyện cho một người trong gia đ́nh, gia đ́nh thánh nhạc. Chúng tôi coi Thầy là một bậc đàn anh đi trước chúng tôi, một người đă từng mang trong ḿnh những băn khoăn, thổn thức, những ước mơ rạo rực về một tiền đồ tươi sáng cho nền Thánh Nhạc tại quê hương chúng ta.

 

Thầy Hải Linh, Thầy Hải Linh quí mến ơi ! Chúng tôi ngậm ngùi luyến tiếc nhớ thương Thầy. Biết đâu giờ này Thầy đang được cùng các Thần Thánh trên trời không ngừng ca tụng Chúa. Nếu vậy, xin Thầy đừng quên những người đang v́ Thầy mà có mặt ở đây. C̣n nếu như Thầy vẫn chưa được về nơi vĩnh phúc, th́ chúng tôi sẽ tiếp tục cầu nguyện cho Thầy, đặc biệt trong buổi lễ hôm nay. V́ ḷng Thầy tin Đức Giêsu Kitô cũng như v́ công lao vất vả và những đau khổ Thầy phải chịu trong suốt quăng đời phụng sự Thánh Nhạc, xin Chúa mau đưa Thầy về nơi sáng láng và b́nh an.

 

Lm. An-rê Đỗ Xuân Quế

 

 

 

MỘT NÉN HƯƠNG TƯỞNG NIỆM

TÁC GIẢ BÀI THÁNH CA BẤT HỦ: "HANG BÊ-LEM"
NHÂN LỄ MĂN TANG CỐ NHẠC SĨ HẢI LINH

 

Chiều Chúa nhật 6-1-1991, tại nhà thờ Tân Sa Châu, một buổi lễ đồng tế trang trọng với trên 30 Linh Mục và Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh chủ tế, được tổ chức để tưởng nhớ ba năm ngày qua đời của cố nhạc sĩ Phanxicô Hải Linh. Cũng vào buổi chiều cùng ngày, một số nhà thờ khác trong giáo phận cũng dâng lễ cầu nguyện và tưởng niệm cố nhạc sĩ và nhắc nhớ đến công lao to lớn của một nhạc sĩ bậc thầy trong công cuộc h́nh thành và phát triển thánh nhạc Việt Nam vào những thập niên 40, 50, 60… Và suốt một đời hoạt động âm nhạc đă để lại hơn 100 tác phẩm âm nhạc nhằm tôn vinh Thiên Chúa và tán tụng quê hương.

 

Nếu trước thánh lễ có nghi thức tưởng niệm với một phần tác phẩm của cố nhạc sĩ Hải Linh vả linh mục Xuân Thảo: Trựng Ca Các Tạo Vật được thể hiện bằng hợp xướng và dàn giao hưởng đă làm đông đảo những người tham dự thánh lễ xao xuyến, nhớ thương; th́ kết lễ, tất cả mọi người đều say sưa cùng hát bài thánh ca bất hủ.

 

Hang Bêlem đă làm tôi vô cùng xúc động.

Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…

Nằm trong hang đá, nơi máng lừa

Trông hang Bêlem…

 

Câu hát ấy, giai điệu ấy, bài thánh ca ấy đă có số tuổi lớn hơn tuổi tôi! Khi tôi biết nghe, biết nói, biết đi đến nhà thờ là đă có bài hát ấy. Đó cũng là bài thánh ca đầu tiên mà tôi thuộc ḷng vào mỗi dịp Giáng sinh của một thời ấu thơ. Măi đến bây giờ, tóc đă bắt đầu nhuộm màu sương khói…bài hát ấy là bài thánh ca duy nhất mà tôi c̣n thuộc nằm ḷng.

Cái ǵ đă làm cho bài hát rất giản dị, sáng trong ấy tồn măi trong ḷng người? Và ai dám bảo là nó sẽ không tồn tại măi đến đời sau ? Hồi c̣n sinh tiền, cố nhạc sĩ Hải Linh đă có lần kể về sự ra đời của bài hát Hang Bê-lem :

 

"Đó là bài đầu tiên mà tôi viết vào tháng 11 năm 1945. Lúc ấy tôi được 25 tuổi và đang dạy học ở trường thầy Giảng Bùi Chu.

Một hôm, tôi đi ngang qua Ṭa sọan bán nguyệt san Đường Sống ở Nam Định, ông Minh Châu-chủ nhiệm-thấy tôi thường hay hát nên đố tôi làm được một bài để đăng vào báo Đường Sống nhân mùa Giáng Sinh. Tôi nhận lời và hẹn ba ngày sau trở lại.

Sau ba ngày tôi đưa bản nhạc Hang Bê-lem tới Ṭa soạn và tập sơ qua cho một số anh chị em trong Ṭa soạn. Khi hát lên, mọi người thấy thích quá nên ông Minh Châu mới thương lượng với tôi thế này : Ông sẽ chi phí cho người cầm bản nhạc lên Hà Nội để t́m Mạnh Quỳnh và thuê Mạnh Quỳnh khắc vào bản gỗ. Sau khi đă in 2000 số báo Đường Sống, ông Minh Châu sẽ cho tôi lại bản gỗ của bản nhạc. Tôi cũng đồng ư như vậy.

Tôi c̣n nhớ, lúc đó tôi đă in ra 500 bản với giá 3 hào hay 5 xu ǵ đó. Tôi gởi lên Hà Nội 10 bản. Một số nhà thờ hát và nhiều người thấy hay nhưng không t́m đâu ra bản nhạc. Thật đúng tôi là một anh nhà quê ! Đối với thủ đô Hà Nội mà chỉ có gởi 10 bản nhạc !".

 

Bài Hang Bê-lem đă ra đời như thế, và đă được chính tác giả điều khiển ca đoàn nhà thờ chính ṭa Phát Diệm hát lần đầu tiên trong thánh lễ Đêm Giáng Sinh 1945. Chính nhờ sự thành công của bài hát này, thầy Phanxicô Hải Linh (tên thật là Trần văn Linh, quê xứ Ứng Luật, Kim Sơn, Ninh B́nh) đă được Giám Mục Phát Diệm gởi đi du học ở Âu Châu vào năm 1950. Học nhạc ở Ư và học sáng tác ở Paris.

 

Chuyện kể về cố nhạc sĩ Hải Linh không dừng lại ở sáng tác đầu tay : Hang Bê-lem , mà c̣n được nhắc nhở nhiều đến các tác phẩm âm nhạc nổi tiếng sau này về đạo cũng như về đời : Trựng Ca Các Tạo Vật (dùng lời kinh của thánh Phanxicô, sáng tác chung với Xuân Thảo) gồm 10 bài, Trường ca Ave Maria (phổ thơ Hàn Mặc Tử) gồm 10 bài. Và một số bài thánh ca riêng lẻ như Kính mừng Nữ Vương, Tán tụng hồng ân, Ngài Là Thiên Chúa (Te Deum)… và một số bài thánh ca khác đă được hát trong 40 năm qua.

 

Về phần nhạc đời, cố nhạc sĩ đă để lại trong kho tàng âm nhạc Việt Nam những tác phẩm như : Đại tấu khúc Chinh phụ ngâm (trích thơ Đặng Trần Côn). Tác phẩm này được viết theo nhạc Việt nhưng h́nh thức vẫn theo lối cổ điển phương Tây, chia làm ba hành âm (mouvement) : Từ khi có lệnh chiến chinh " Trống tràng thành lung lay bóng nguyệt…" cho đến khi người chinh phụ tiễn chinh phu lên đường lo việc nước. Cảnh người chinh phụ cô đơn chiếc bóng ở lại nhà săn sọc mẹ già và con thơ " Gà eo óc gáy sương năm trống…" . Phần kết kể lại ngày đoàn viên… Đại tấu chuông ḥa b́nh viết cho dàn đại ḥa tấu và ban hợp xướng cùng với một số nhạc khí cổ truyền ; Nhạc kịch thơ Duyên kỳ ngộ (thơ Hàn Mặc Tử), đây là một thể loại tiểu nhạc kịch (micro-opera), Trường ca cung đàn bạc mệnh (trích thơ của Nguyễn Du trong tác phẩm truyện Kiều), gồm bốn cung chia ra như sau :

 

- Cung thứ nhất, gồm 10 bài, tả lại tiếng đàn của Thúy Kiều gảy cho Kim Trọng nghe

- Cung thứ hai, gồm sáu bài, tả lại tiếng đàn của Thúy Kiều gảy cho Thúc Sinh và Hoạn Thư nghe.

- Cung thứ ba là tiếng đàn của Thúy Kiều gảy cho Hồ Tôn Hiến.

- Và cung thứ tư là tiếng đàn của Thúy kiều gảy cho Kim Trọng lúc tái hồi.

 

Thật tiếc, cố nhạc sĩ Hải Linh đă chưa hoàn tất cung đàn bạc mệnh cuối cùng… Riêng các tác phẩm âm nhạc độc lập (không nằm trong bộ hay trường ca nào) cũng rất đáng chú ư như : Đà Lạt trăng mờ, Ra đời (thơ Hàn Mặc Tử ), Nhạc Việt, Hương quê, Ra khơi, T́nh nước non, Cóc quân đả phá thiên đ́nh, Thằng Bờm có cái quạt mo… Về phương diện học thuật, cố nhạc sĩ đă để lại những kinh nghiệm sáng tác, kỹ thuật và phương pháp điều khiển dàn giao hưởng và hợp xướng qua hai cuốn sách mang tên Lối viết thoáng mỏng lối Tŕnh tấu sống động.

Tôi xin thắp một nén hương tưởng nhớ trước di sản tinh thần qúi giá mà suốt đời hoạt động âm nhạc, nhạc sĩ tài hoa đă chắt chiu, dành dụm để một nửa Tôn vinh Thiên Chúa, một nửa kia Tán tụng quê hương . Qua nén hương tưởng niệm này, tôi cầu mong tất cả di sản âm nhạc của cố nhạc sĩ Hải Linh sẽ được giữ ǵn và đến với tất cả mọi người có đạo cũng như không có đạo, những người có tâm hồn thiết tha với niềm tin yêu Thiên Chúa mà cũng yêu mến đất nước, quê hương, dân tộc … thiết tha

 

Vũ Duy Giang

(CG&DT790)

 

TOP

 

 

 

 

PHỎNG VẤN TÁC GIẢ

Nhạc Phẩm Bất Hủ

"HANG BÊ LEM"

Nhạc Sĩ Hải Linh và Nhạc Việt

Trần Văn Chí Thành

 

 

 

 

Chí Thành : Nhạc phẩm " Hang Bê lem " của nhạc sĩ đă được hát hàng ngàn hàng vạn lần ở những nơi có người Việt khi mùa Giáng Sinh đến. Xin Nhạc Sư cho biết đôi ḍng về bài đó.

 

Hải Linh : Đó là bài đầu tiên mà tôi viết vào tháng 11 năm 1945. Lúc ấy tôi được 25 tuổi và đang dạy học ở trường Thầy Giảng ở Nam Định.

Một hôm tôi đi ngang qua ṭa soạn bán nguyệt san Đường Sống ở Nam Định, ông Minh Châu – chủ nhiệm – thấy tôi thường hay hát nên đố tôi làm được một bài để đăng vào báo Đường Sống nhân mùa Giáng Sinh. Tôi nhận lời và hẹn 3 ngày sau trở lại.

Sau ba ngày tôi đưa bản nhạc "Hang Bê lem" tới ṭa soạn và tập sơ qua cho một số anh em trong ṭa soạn. Khi hát lên, mọi người thấy thích quá nên ông Minh Châu mới thương lượng với tôi thế này : Ông sẽ chịu chi phí cho một người cầm bản nhạc lên Hà Nội để t́m Mạnh Quỳnh và thuê Mạnh Quỳnh khắc vào bản gỗ ; rồi sau khi đă in vào 2000 số báo Đường Sống th́ ông Minh Châu sẽ cho tôi lại bản gỗ của bản nhạc. Tôi cũng đồng ư như vậy.

Tôi c̣n nhớ là lúc ấy tôi đă in ra 500 bản để bán với giá 3 hào hay 3 xu ǵ đó. Tôi gửi lên Hà Nội 10 bản. Một số nhà thờ hát và nhiều người thấy hay nhưng không t́m đâu ra bản nhạc. Thật tôi là một anh nhà quê v́ đối với thủ đô Hà Nội mà chỉ gửi có 10 bản nhạc ! Một điều rất đặc biệt là Cha Kim Định đă mua một bản danh dự với giá 100 đồng ! Tôi cũng gửi biếu Đức Cha Phạm Ngọc Chi – lúc ấy c̣n là Linh mục và đang dạy ở trường Lư Đoán Phát Diệm – một bản.

Sau khi bài đầu tiên được hưởng ứng nồng nhiệt, tôi rất lên tinh thần và tôi cứ thong thả viết cho đến năm 1946 tôi đă xuất bản một quyển Ca Vịnh gồm nhiều bài về Đức Mẹ, trong đó có những bài rất phổ biến như :

"Mẹ ơi ! Đoái thương xem nước Việt Nam"

"Giáo dân bao xiết mừng"

"Ngày nay con đến hát khen..." (dâng Hoa )

 

Chí Thành : Lối viết của Nhạc Sư rất nhẹ nhàng thanh thoát, giản dị và dễ phổ biến. Xin Nhạc Sư cho biết đă học nhạc ở đâu ?

 

Hải Linh : Lúc ấy chưa có ai dạy tôi về âm nhạc cả. Khi tôi lên 13 tuổi th́ được một Linh mục người Tây Ban Nha tên là Rangel (Việt Nam gọi là Cố Lễ) dạy tôi nhiều bài hát đạo. Tôi mượn sách của Cha Rangel về xem tự t́m hiểu : so sánh những ǵ tôi đang hát với những dấu nhạc ghi trong bài... Cứ thế tôi t́m hiểu rồi viết nhạc và thấy mọi người ưa chuộng những bản nhạc của tôi.

Cho đến năm 1950 khi Cha Phạm Ngọc Chi thụ phong Giám Mục coi sóc địa phận Bùi Chu, Ngài đă nhớ đến bài hát của tôi tặng ngài trước đây nên ngài đă gửi tôi sang học tại Âu Châu. Tôi học khoảng 7 tháng tại Pontifical de Rome (Ư), rồi sau đó sang Ba Lê (Pháp), học ở trường Cesar Franck là một trường chuyên dạy về sáng tác. Tôi học từ năm 1950 đến năm 1956 th́ về Sàig̣n. Luận án của tôi là "La couleur Vietnamienne dans le Chant Grégorien" (Màu sắc Nhạc Việt trong B́nh ca). Trong thời gian học ở Ba Lê, tôi ở cùng một nhà với Cha Kim Định. Cha Kim Định đă giúp đỡ tôi rất nhiều, đă xây dựng ra tôi. Cũng trong thời gian ấy, Cha Kim Định th́ tranh luận với các tư tưởng gia Tây phương về Triết học, c̣n tôi th́ tranh luận với các nhạc sĩ Tây phương về âm nhạc... nên cả hai chúng tôi đă thấm nhuần những điều sở học.

 

Chí Thành :Xin Nhạc sư cho biết về những tác phẩm mà Nhạc sư đă sáng tác cho đến nay.

 

Hải Linh : Tôi phải thú nhận rằng tôi không có sáng tác ǵ cả v́ chỉ có một Đấng Tạo Hóa mới thực sự sáng tác mà thôi. C̣n tôi cũng như bao nhiêu người khác th́ không dám nói là ḿnh sáng tác. Tôi chỉ có "sàng tạc" được một đôi bài. Sàng là sàng qua lọc lại ; tạc là dựa vào một mô thức đa có sẵn để chế biến... như người tạc tượng vậy.

Viết nhạc cũng cực như lao động chân tay vậy v́ phải cưu mang, phải tính toán, rồi c̣n phải biết lư tưởng hóa những cảm nghĩ, t́nh cảm v.v... Mỗi bài phải có một sức sống riêng. Tất cả những bài tôi viết nằm trong hai chủ đề là :

1 – Tôn Vinh Thiên Chúa

2 – Tán Tụng Quê Hương Việt Nam.

Tôi phải cảm tạ Thiên Chúa suốt ngày, suốt đời tôi, v́ Ngài đă cho tôi biết được một thứ ngôn ngữ tế vi và phổ quát của nhân loại. Tôi cũng phải luôn luôn tán tụng Quê Hương v́ đă dưỡng dục tôi.

Về loại thứ nhất, tôi viết những bài chia làm 3 loại sau đây :

a/ Trường ca các Tạo vật (dùng lời kinh của Thánh Phanxicô). Tập này có 10 bài và đă hoàn tất được 8 bài. Trong số 10 bài này có những bài như "Ông Anh Mặt Trời" , Trăng Sao, Tinh Tú, Nước, Lửa... tất cả đều cất tiếng ca tụng Thiên Chúa. Ngoài ra có "Khúc Ca Mặt Trời" cũng là 1 bài được nhiều người ưa thích.

b/ Giáo trường ca Ave Maria (phổ nhạc bài thơ "Thánh Nữ Đồng Trinh Maria" của Hàn Mặc Tử). Trường ca này gồm 10 bài trong đó có ba bài mà nhiều người đă hát, đă nghe "Như sóng lộc triều nguyên ơn phước cả", bài "Mẹ là Đấng tinh tuyền thanh vẹn" và bài "Tấu lạy Bà". Trường ca này dài 26 trang.

c/ Một số bài độc lập (không nằm trong bộ hay trường ca nào).

Kính Mừng Nữ Vương (viết cách đây 28 năm dịp Đại Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc tại Saigon năm 1958)

Tán tụng hồng ân (thơ của Vũ Đ́nh Trác).

Tạ ơn Thiên Chúa (tức kinh "Te Deum").

Và nhiều bài khác nữa đă được hát trong 40 năm qua .

Về loại thứ hai có các bài sau đây :

a/ Đại tấu Chinh Phụ Ngâm (trích thơ tác phẩm văn chương Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn). Bài này vẫn viết theo nhạc Việt nhưng h́nh thức viết th́ theo lối Tây phương chia làm 3 hành âm (movement) : Từ khi có lệnh chiến chinh "Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt..." cho đến khi người Chinh Phụ tiễn chân người Chinh Phu lên đường tại bến Hàm Dương " chốn Hàm Dương chàng c̣n ngoảnh lại..." rồi cảnh người Chinh Phụ cô đơn chiếc bóng ở lại nhà săn sóc mẹ già và con thơ "Gà eo óc gáy sương năm trống...". Phần kết kể lại ngày đoàn viên khi người Chinh Phu trở về "Mở khăn lệ chàng trông từng tấm. Đọc thơ sầu chàng thấm từng câu. Câu vui đổi lấy câu sầu..."

b/ Đại tấu Chuông Ḥa B́nh . Bài này viết cho giàn nhạc Đại ḥa tấu và Ban Hợp ca cùng với một số nhạc khí cổ truyền Việt Nam. Bài này tôi viết để riêng tặng tổ chức An Việt của Cha Kim Định.

c/ Nhạc Kịch Thơ Duyên Kỳ Ngộ (thơ của Hàn Mạc Tử) gồm nhiều đoạn. Đây là một tiểu nhạc kịch (micro opera) đă được hoàn tất trong thời gian tôi c̣n học tại Ba Lê - Pháp, khoảng năm 1955.

d/ Trường ca Cung Đàn Bạc Mệnh (trích thơ của Nguyễn Du trong tác phẩm văn chương trứ danh "Truyện Kiều"). Trường ca này có 4 cung chia ra như sau :

  • Cung thứ nhất : gồm 10 bài tả lại tiếng đàn của Thúy Kiều gảy cho Kim Trọng nghe. Cung này đă hoàn tất và đă có tŕnh tấu.

  • Cung thứ hai : gồm 6 bài tả lại tiếng đàn của Thúy Kiều gảy cho Thúc Sinh và Hoạn Thư nghe. Cung này cũng đă hoàn tất.

  • Cung thứ ba : tiếng đàn của Thúy Kiều gảy cho Hồ Tôn Hiến. Đây là cung cay đắng nhất. Tôi đă tấu lên phần nhập đề (introduction) rồi, nhưng chưa có th́ giờ khai thác hết.

  • Cung thứ tư : tiếng đàn của Thúy Kiều gảy cho Kim Trọng. Cung này cũng chưa hoàn tất. Khi viết cung thứ nhất, tôi có vào Chợ Lớn t́m gặp học giả Lư Văn Hùng để hỏi "ngày xưa khi giao tranh, ngựa ra từ mấy cửa". Học giả Lư Văn Hùng cho biết là "ngựa ra từ 12 cửa". Ông Lư Văn Hùng cũng đă diễn tả được cánh hạc bay như thế nào...

e/ Một số bài độc lập như :

-- Đà Lạt Trăng Mờ (thơ Hàn Măc Tử). Đă tŕnh tấu tại Thảo Cầm Viên Sàig̣n cùng với giàn nhạc Đại ḥa tấu từ New York sang (khoảng năm 1958)

-- Nhạc Việt

-- Hương Quê

-- Cóc quân đả phá Thiên đ́nh

-- Thằng Bờm có cái quạt mo

-- Ra khơi

-- Ḷng mẹ (lời của Y Vân)

-- Ra đời (thơ Hàn Mạc Tử)

-- T́nh nước non.

 

Nói chung ra th́ một bài nhạc phải tồn tại từ 30 đến 40 năm mới thực sự có giá trị và trường tồn.

 

Chí Thành : Hầu hết những bài của Nhạc sư đều viết theo thể nhạc Việt. Xin Nhạc sư cho biết đă học nhạc Việt ở đâu ?

 

 Hải Linh : Về vốn liếng nhạc Việt, tôi đă thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau : tiên khởi là do mẹ tôi dạy tôi khi tôi c̣n nhỏ v́ hồi đó mẹ tôi là một "bà quản" thuộc rất nhiều bài hát cổ xưa. Mẹ tôi chuyên dạy cho các cô trong xứ đạo. Các cô học hát được chia làm hai loại khác nhau : những cô hát và tiến hoa th́ được gọi là "con hoa" ; Những cô chỉ hát mà không tiến hoa gọi là "học tṛ".

Tôi sinh trưởng ở miền Bắc nên đă biết tất cả các hơi bắc từ văn, vè, than, trống quân, c̣ lả, quan họ, chèo v.v... chẳng hạn những tiếng "ḥ dô ta, ơ dô ta" là tiếng ḥ trên sông Mă ở Thanh Hóa... Về loại "cổ giáo nhạc Việt" (chant paraliturgique) tôi cũng có đầy đủ. Ngoài ra tôi cũng có thêm hai vốn đặc biệt khác nữa là Hy Lạp và B́nh Ca (Chant Grégorien) của Tây phương, do đó, hiểu thấu đáo nhạc Việt có những nét tinh túy độc đáo khác hẳn với nhạc Trung Hoa, Nhật Bản hay Chiêm Thành...

 

Chí Thành : Nhạc sư có sáng tác tân nhạc không ?

 

Hải Linh : Tôi không viết bản nào cả.

 

Chí Thành : Nhận xét của Nhạc sư về loại nhạc bây giờ ?

 

Hải Linh : Sau thế chiến, các đại tư tưởng gia Tây phương đă loan báo về t́nh trạng khủng hoảng trầm trọng của thế giới Tây phương : lo âu, xao xuyến, bất an v.v... Toynbee nói về "sự trống rỗng tinh thần của Châu Âu (nihilisme occidental), Berdiaeff cho rằng "Tây phương đang lo âu đến vực thẳm v́ mọi giá trị đang sụp đổ." Đại loại là như vậy trong khi nhạc Tây phương đă đến chân tường nên bây giờ hầu hết những người viết nhạc chỉ cần làm sao cho khác thường, giật gân, kinh khủng, quái gở… từ cách viết đến cách hát : la hét, nằm lăn quay ra đất v.v...

 

Chí Thành : Hiện trạng trên là đối với loại nhạc bây giờ, chứ trong quá khứ Tây phương đă sản xuất được những công tŕnh rất đồ sộ hùng vĩ của một Beethoven, một Mozart, một Palestrina, một Haendel...

 

Hải Linh : Âm nhạc Tây phương dựa trên thất âm tức là âm giai trưởng, âm giai thứ và thịnh hành từ thế kỷ XVI. Hệ thống thất âm thích hợp với ngôn ngữ Tây phương, diễn tả tâm t́nh của người Tây phương. Trong suốt 4 thế kỷ, nguồn cảm hứng đă được khai thác hết, đă được chắt lọc rất kỹ, đă hết nhựa sống. Các nhạc sĩ tài danh đă khai thác từ đơn điệu đến ḥa âm. Nói tóm lại là nhạc Tây phương đă đến góc tường rồi và từ đầu thế kỷ XX người ta đă đổ đi t́m nguồn cảm hứng mới..

 

Chí Thành : Xin Nhạc sư cho biết những độc đáo của nhạc Việt.

 

Hải Linh : Nhạc Việt dùng hệ thống ngũ cung. Nhạc Trung Hoa từ nguyên thủy dựa trên hệ thống ngũ cung là : Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ. Khi người Việt bắt đầu sang nghiên cứu hệ thống ngũ cung của người Trung Hoa vào thế kỷ XV là lúc âm nhạc Trung Hoa chịu ảnh hưởng trong mấy thế kỷ do người Mông Cổ thống trị và Ngũ cung lúc bấy giờ là : Hồ, Xự, Xang, Xế, Cống (thay v́ Cung, Thương, Giốc, Chủy,Vũ).

 

Chí Thành : Xin Nhạc sư cho biết về sử dụng ḥa âm (harmony) trong nhạc Việt.

 

Hải Linh : Nhạc Tây phương sở dĩ cần dùng hóa âm hoặc có thể dùng ḥa âm là v́ những cung bậc của họ nhất định, chắc chắn. Mỗi cung bậc cần bao nhiêu âm ba (vibration) là phải đúng như vậy chứ không thể thiếu được. Khi tôi gơ cái âm thoa (diapason) th́ bắt buộc có đủ 440 âm ba th́ mới phát âm ra cung La. Chính v́ những cung bậc nhất định, cung bậc chết như vậy nên mới cần ḥa âm cho thêm màu sắc. Nói một cách khác, v́ cung bậc của nhạc Tây phương đă được ấn định rơ ràng, cung nào ra cung đó nên ḥa âm đă được dùng để chế tạo nên những khối âm thanh phức tạp...

Trái lại, cung bậc trong nhạc Việt không nhất định, không có cung nào thật cả. Nói theo danh từ chuyên môn là cung bậc của nhạc Việt không nhất định số âm ba. Mỗi người khai thác cung bậc nặng nhẹ khác nhau, tất cả đều di động. chẳng hạn như cây đàn tranh, quan trọng nhất là tay trái của người tấu ; khi th́ mổ xuống, khi th́ nhấn, khi th́ rung làm cho âm thanh đầy màu sắc. Thử tưởng tượng là một cây đàn huyền diệu như cây đàn Kinh (độc huyền cầm) nếu người tấu không sử dụng tay trái th́ tức là đánh nốt chứ không phải tấu nhạc uyển chuyển.

Nhạc Việt không có cái đẹp sáng lạn hùng vĩ như nhạc Tây phương nhưng ngược lại rất dịu dàng thanh thoát hợp với tâm t́nh và lư tưởng của người Á Đông.

V́ cung bậc của nhạc Việt không ở chỗ nào cả nên nếu dùng ḥa âm kiểu Tây phương sẽ bị phá ngay. Học giả Trần Văn Khê nói rằng nếu dùng nhạc khí Tây phương mà tấu nhạc Việt th́ nghe nó "thô tục" (grossièrement).

 

Chí Thành : Nhạc sư có soạn sách không ?

 

Hải Linh : Tôi có viết hai quyển : Một quyển là "Lối viết thoáng mỏng", tŕnh bày về lối sáng tác nói lên nét đẹp độc đáo của Á Đông nhất là của Việt Nam. Tôi tŕnh bày về lối viết nhạc Việt không cầu kỳ rườm rà hay đồ sộ như nhạc Tây phương nhưng đơn sơ nhẹ nhàng. Thế giới ngày nay đang đi t́m một cái ǵ nhẹ nhàng thanh thoát đáp ứng với nguyện vọng thâm sâu của tâm hồn sau những lúc cảm thấy bất an.

Quyển thứ hai tôi viết về lối "Tŕnh tấu sống động" nhằm tŕnh bày làm thế nào để điều khiển một ban hợp ca để tấu lên được tất cả những tinh túy của một bản nhạc.

 

Chí Thành : Nhiều người đă được biết hoặc nghe nói Nhạc sư có một lối đánh nhịp (điều khiển ban hợp ca) đặc biệt. Xin Nhạc sư cho biết sơ qua.

 

Hải Linh : Việc khởi tấu rất quan trọng cũng y như việc phóng một phi thuyền vào không gian. Cho được phóng một phi thuyền cần phải có những chuẩn bị đầy đủ và chính xác... Điều khiển một ban hợp ca để tấu lên một bản nhạc cũng vậy. Tôi đă áp dụng trong mấy chục năm nay và những ca viên lănh hội được từng cử chỉ và được nhiều người công nhận. Tây phương cũng có một số người chuyên về điều khiển hợp ca (chef de Choeur) nổi tiếng như Pierre Koelin (Thụy Sĩ), Robert Wilson (ở Ohio, Hoa Kỳ )...

 

Chí Thành : Chúng tôi trộm nghĩ rằng Nhạc sư c̣n rất nhiều việc phải làm mà thời gian rất cấp bách... Vậy việc huấn luyện ca trưởng, Nhạc sư có thể thâu vào băng video để họ có thể tự luyện hàm thụ với nhau rồi lâu lâu th́ Nhạc sư đi kiểm điểm và điều chỉnh, sửa chữa v.v...

 

Hải Linh : Lối điều khiển của tôi rất khác nên rất khó mà có thể hấp thụ mà không có người chỉ dẫn trực tiếp. Mỗi cái cất tay của tôi là một thế vơ (chiêu thức) và tôi đă sáng chế ra 300 miếng vơ... Chính v́ vậy mà tôi cần phải đích thân bẻ tay, nắn thân người v.v... cho học viên mới được. Cũng tỉ như khi học vơ, cần phải học khẩu quyết th́ mới phát huy được nội lực chứ không phải chỉ xem qua mà có thể làm được. Tuy nhiên, ư kiến làm băng video cũng rất hay đối với những phần nào có thể tŕnh bày được.

 

Chí Thành : Dường như thế giới bên ngoài biết rất ít về việc làm của Nhạc sư. Nhạc sư có chương tŕnh xuất bản sách và nhạc thâu băng những tác phẩm của Nhạc sư không ?

 

Hải Linh : Chữ "thế giới bên ngoài" anh muốn ám chỉ người ngoại quốc ?

 

Chí Thành : Dạ, thưa cả người ngoại quốc và cả Cộng đồng Việt Nam nói chung.

Nhạc sư Hải Linh lấy cái điếu cầy ra, vừa châm thuốc vừa tâm sự : Tôi nghiện thuốc lào từ khi lên 10 tuổi ! Cái nghiện thuốc lào này nó khó bỏ lắm chứ không như thuốc lá . Sau khi rít một hơi dài nghe "róc róc", Nhạc sư Hải Linh trầm giọng xuống v́ ưu tư .

 

Hải Linh : Năm nay, tôi 67 tuổi, tuổi Thân, cùng tuổi với Đức Giáo Hoàng. Tuổi Thân bạc bẽo lắm : tôi chỉ c̣n nấp bóng Đức Giáo Hoàng để sống được qua ngày nào hay ngày đó thôi.

Việc anh hỏi thiết tưởng đó là việc rất cần phải làm và trở nên cấp cách...

Vấn đề tập các bản nhạc mới là nan giải v́ thời giờ bên này rất là eo hẹp và mỗi người mỗi nơi... Tôi nghĩ rằng chỉ có cách là mỗi địa phương lấy chừng 5 người, trao bản với những chỉ dẫn cần thiết để họ tự luyện lấy với nhau. Sau một thời gian th́ tập hợp tất cả lại, tổng dượt rồi dành ra chừng một tháng trời chỉ có ăn rồi thâu băng. Tập một trường ca Cung Đàn Bạc Mệnh cũng phải mất một năm.

Nói tóm lại, về vấn đề xuất bản cũng như tập hát và thâu băng, tôi rất cần những nhà "mạnh thường quân". Đây là vấn đề chung của Cộng đồng Việt Nam hải ngoại... Đối với những bạn yêu nghệ thuật, thời giờ không bó buộc nhiều... có thể hy sinh để Tôn Vinh Thiên Chúa, để Tán Tụng Quê Hương.

Tôi c̣n nhớ Anh Quốc là một cường quốc trên thế giới, thế mà trên lănh vực ngoại giao, họ cũng đă chi rất nhiều tiền cho dàn nhạc, ban hợp ca, đoàn vũ v.v... đi lưu diễn khắp thế giới.

 

Chí Thành : Nhạc sư có nói rằng bài đại tấu Chuông Ḥa B́nh là để riêng tặng tổ chức An Việt của Cha Kim Định. Xin Nhạc sư cho biết một chút về bản này.

 

Hải Linh : Bài này tôi viết cho dàn nhạc đại ḥa tấu (Symphony orchestra) cho khoảng 50 nhạc công Tây phương, 50 ca viên và một số nhạc khí cổ truyền Việt Nam. Phần hợp ca là một khúc ở đoạn cuối bài.

Năm 1984 khi Cha Kim Định đi dự Hội Triết học Trung Hoa tại Đài Loan, đă ao ước bài này được tŕnh tấu tại Đại Hội trước các Tư Tưởng Gia lỗi lạc nhất của hoàn cầu v́ bài này là một lời rao giảng về chữ Ḥa . Ba chữ "Chí Trung Ḥa" ( When the centering is utmos, the Harmony is the greatest) trích ở sách Trung Dung đă tóm thâu tinh hoa của Nho Giáo tuyệt vời, nói lên được nét đặc trưng của Nho cách thấu triệt và chúng ta cần phải nhận thức được mọi chiều kích của ba chữ đó để hiện thực vào thân tâm và diễn đạt ra cho mọi người cùng hiểu. Con người đứng gơ nhịp để Ḥa Trời với Đất... Nho giáo không chú ư lời hay ư đẹp cho bằng chú ư tới đời sống đẹp tạo nên do chữ H̉A

Trong khi các nhạc khí đang tấu th́ một người sẽ nói lên tất cả lư tưởng và khát vọng của con người...

 

Chí Thành : Mùa hè 1988 là dịp Phong Hiển Thánh cho 177 Chân Phước Tử Đạo Việt Nam tại Roma. Nhạc sư chắc hẳn đă có chương tŕnh Thánh Ca cho dịp lễ quan trọng nhất cho Dân Tộc Việt Nam này ?

 

Hải Linh : Tôi dự định sẽ có 4 buổi tŕnh tấu vào dịp đó : Một buổi đầu tiên tại Công Trường Thánh Phêrô vào chính lễ Đức Thánh Cha Phong Thánh ... một buổi trong Thánh Lễ Đại Triều Tạ Ơn của Cộng Đồng CG Việt nam hải ngoại, một buổi tŕnh diễn riêng cho Đức Thánh Cha để cảm tạ ḷng thương yêu Dân Tộc Việt Nam của Ngài. Dịp này tôi sẽ tŕnh tấu bài " T́nh Nước Non ".

 

Chí Thành : Chúng tôi tưởng Nhạc sư sẽ tŕnh tấu Nhạc Việt ? Xin Nhạc sư cho biết về bài "T́nh Non Nước".

 

Hải Linh : Đây là bài tôi dệt nhạc vào một bài ca dao Huế.

 

"Đ̣ từ Đông Ba,

Đ̣ qua Đập Đá

Đ̣ từ Vĩ Dạ,

Thẳng ngă ba Sềnh

Lờ đờ bóng ngă trăng chênhTiếng ḥ xa vọng nhắn T́nh Nước Non."

Vỏn vẹn chỉ có thế, nhưng tấu lên th́ chứa chan t́nh Quê Hương Dân Tộc...

 

Chí Thành  : Chúng tôi xin thành thực cám ơn Nhạc sư đă dành thời giờ để trả lời những câu hỏi của chúng tôi. Trước khi dứt lời, với tư cách là một người thấu triệt về âm nhạc và vừa từ quốc nội ra, Nhạc sư có nhắn nhủ ǵ qua báo chí không?

 

Hải Linh : Đừng quên đồng bào ở quê nhà và hăy phát huy nhạc Việt Ngũ Cung và Thơ Lục Bát là một kho tàng vô giá vô tận.

 

 

TOP

 

 

ĐIẾU VĂN

Ngày vĩnh biệt Hải Linh

TÔN VINH THIÊN CHÚA

VÀ TÁN TỤNG QUÊ HƯƠNG

 

Anh Hải Linh thương mến,

Tôi được hân hạnh quen anh vào buổi chiều Đông 1954, ngay cửa miệng hầm métro, trước thềm đá của Nhà Hát Lớn Opéra, bên hữu ngạn ḍng sông Seine của thành phố Paris trong một mùa ướt lạnh và u tối ! Lúc đó tôi đang theo học ở Institut De Musicologie thuộc viện Sorbonne với tư cách một bàng thính viên, c̣n anh th́ đang thụ huấn tại Trường Nhạc César Frank. Chiều hôm đó, cũng có mặt vị Sư Huynh trẻ tuổi Ngô Duy Linh. Và chính ngài là người rất tế nhị, đă gọi phone cho tôi, hẹn tới gặp nhau ở đây, trước cổng lớn của một Lâu Đài Nghệ Thuật… Chúng ta đă kéo nhau đi uống nước và tṛ chuyện rất lâu về âm nhạc. Chúng ta đă rất yêu quí nhau, bởi v́ chúng ta đều đang cùng đi học hỏi những kiến thức về âm nhạc của nhân loại ở phương xa, để có thêm chất liệu dùng vào việc xây dựng một nền nhạc mang âm hưởng dân tộc…

Tôi c̣n nhớ hôm đó anh đă dạy cho tôi biết rằng ở trong Công giáo Việt Nam có những bài chant grégorien – mà anh gọi là b́nh ca – hoàn toàn do người Việt soạn ra. Lúc đó, anh đang chuẩn bị tŕnh luận án về MÀU SẮC NHẠC VIỆT TRONG B̀NH CA (LA COULEUR VIETNAMIENNE DANS LE CHANT GREGORIEN ) và anh đă hỏi tôi, khi đó đă được coi như một người chuyên khảo về dân ca (folkloriste) là : đă có bao giờ tôi sưu tầm những b́nh ca Việt Nam chưa ? Sự hiểu biết của tôi lúc đó hăy c̣n quá non nớt, nhưng tôi cũng đă biết rằng từ nhiều thế kỷ trước, trong gia đ́nh Công giáo, đă có rất nhiều những bài ca vịnh là thơ lục bát được hát lên với những điệu hát cổ truyền như hát văn , hát vè, trống quân, quan họ … vốn cũng có những cung bực gần gũi với các âm giai trong nhạc grégorien … Loại này được anh gọi là Cổ Giáo Nhạc Việt (chant paraliturgique ). Tôi cũng c̣n biết thêm rằng trong giai đoạn thành h́nh của nền Tân Nhạc vào đầu thập niên 40, đă có những công tŕnh quan trọng của nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh với những ca khúc giáo đường do người Việt Nam soạn ra, được in trong những cuốn sách gọi là NHẠC TẬP CUNG THÁNH. Và một trong những bài hát hay nhất được phổ biến nhanh nhất ở cả hai bên lương , bên giáo lại là bài ĐÊM ĐÔNG hay HANG BÊLEM của anh, soạn ra trong năm 1945.

Rồi chúng ta trở về Việt Nam, chúng ta lớn lên với sự lớn lên của Nhạc Việt. Tôi đă theo dơi sự hoạt động âm nhạc của anh và rất cảm phục anh trong hai chủ đề mà anh đă vạch ra một cách rơ ràng : Tôn Vinh Thiên Chúa Tán Tụng Quê Hương .

Những lời kinh của Thánh Phanxicô mà Linh Mục Vũ Đ́nh Trác đă soạn thành thơ để anh phổ nhạc, đă khiến cho chúng tôi, những kẻ ngoại đạo, thấy được tạo vật như mặt trăng, mặt trời, tinh tú, chim chóc, kim mộc thủy hỏa thổ tất cả đều lên tiếng ca tụng Thiên Chúa khiến cho chúng tôi cũng muốn cất tiếng ca theo. Chúng tôi c̣n được thấy bài thơ THÁNH NỮ ĐỒNG TRINH MARIA của Hàn Mạc Tử, trở thành một giáo trường ca do bàn tay sáng tạo của anh, để thấy được giá trị tuyệt đỉnh của thi ca và âm nhạc Công giáo Việt Nam , không thua kém bất cứ thi ca và âm nhạc của bất cứ người Công giáo nào trên thế giới. Rồi tới những bài kinh Te Deum – TẠ ƠN THIÊN CHÚA, KÍNH MỪNG NỮ VƯƠNG, TÁN TỤNG HỒNG ÂN của anh đă vang dội trong các giáo đường trong nước, càng ngày càng giữ cho Niềm Tin vào Chúa càng trở nên sâu đậm.

Tôn vinh Thiên Chúa nhưng anh cũng không quên Tán tụng Quê hương . Hai đại thi phẩm của dân tộc như CHINH PHỤ NGÂM và KIM VÂN KIỀU đă được anh phổ thành những bản hợp ca vĩ đại, mang h́nh thức ca nhạc giao hưởng (poème symphonique ) hay tiểu nhạc kịch (micro – opéra ). Và biết bao nhiêu công tŕnh khác của anh như CÓC QUÂN ĐẢ PHÁ THIÊN Đ̀NH , THẰNG BỜM CÓ CÁI QUẠT MO, RA ĐỜI, RA KHƠI, HƯƠNG QUÊ... đă trở thành những viên ngọc quư giá nhất của gia tài Âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi này. Anh lại c̣n quá rộng lượng mà ban bố cho người đi sau những kinh nghiệm sáng tác của anh qua cuốn sách nhan đề LỐI VIẾT THOÁNG MỎNG, dạy cho hậu bối biết được nét đẹp độc đáo của nhạc Á đông nói chung, nhạc Việt Nam nói riêng, vốn không cầu kỳ, rườm rà hay đồ sộ như nhạc Tây phương và chính cái đơn sơ nhẹ nhàng của nó sẽ được người Tây phương t́m về, khi họ cảm thấy có sự bất an kinh khủng trong cuộc đời quá ư thiên về vật chất của họ.

 

Ngoài tài sáng tác ra, anh c̣n là người đă tạo ra rất nhiều ca trưởng (chef de choeur ) bởi chính anh đă là một ca trưởng tài t́nh nhất, giỏi nhất, có nhiều kinh nghiệm nhất... sau khi đă tạo dựng và điều khiển ban hợp ca hay nhất Việt Nam là ban HỒN NƯỚC. Và cùng với mục đích truyền bá kinh nghiệm của ḿnh, anh đă soạn ra cuốn sách dạy cách điều khiển hợp ca, nhan đề TR̀NH TẤU SỐNG ĐỘNG, trong đó, anh cho mọi người thấy lối đánh nhịp cho một ban hợp ca cũng giống như việc phóng một phi thuyền vào không gian, cần phải có sự chuẩn bị đầy đủ và chính xác như thế nào... Anh Hải Linh ! Anh đă không c̣n đứng đây, giơ tay hùng dũng phóng vệ tinh cho chúng tôi được bay bổng cùng anh trong không gian và thời gian nữa. Anh đă nằm xuống để êm ái đi về Nước Chúa, nhưng tôi tin chắc chắn rằng ngày nào c̣n bóng dáng của những giáo đường trên những nẻo đường Việt Nam, dù đó không phải là những nẻo đường vắt trên quê hương yêu dấu, ngày nào c̣n vang tiếng kinh cầu chen với tiếng nhạc thánh vọng lên bằng ngôn ngữ Việt Nam, ngày ấy anh vẫn c̣n sống động trong ḷng mọi người.

Cảm động và sung sướng biết bao, khi gần đây, trong lúc đang hoang mang và lúng túng đi t́m những phương cách để kéo được tuổi trẻ Việt Nam đi tị nạn trở về với ngôn ngữ mẹ đẻ... th́ tôi được tham dự một buổi lễ nhà thờ. Tôi đă được chứng kiến một cách vừa ngỡ ngàng vừa sảng khoái đến tột độ, cái cảnh nhà thờ chật ních những em bé đứng bên các bậc phụ huynh. Các em đó, có em chỉ mới lên năm, lên sáu, đă mở những miệng son ra để cầu kinh hay hát đạo bằng tiếng Việt ! Chúng ta cứ loay hoay đi t́m buổi trưa vào lúc hai giờ mà không biết rằng Giáo hội Việt Nam lưu vong đang thầm lặng ǵn giữ tiếng mẹ đẻ cho người Việt tị nạn, từ trẻ sơ sinh cho đến người tuổi hạc, qua niềm Tin vào Thiên Chúa, được nâng niu bởi những thánh ca Việt Nam tạo nên bởi những người như Hải Linh.

Anh Hải Linh ơi ! Anh hăy ngủ ngon giấc ngủ ngh́n đời ! Tôi sẽ c̣n gặp anh trong tiếng hát của những người hiền như masoeur, qua lời giảng của những linh mục chưa phai mùi thơm của đồng ruộng Việt Nam, trên những môi đỏ vết trầu của các bà mẹ c̣n chít khăn vuông mỏ quạ đi chợ supermarket... và xinh đẹp nhất, trên những môi mọng của các em bé nửa Việt Nam nửa Mỹ đang sống nhờ ở đạo của Chúa và nhạc thánh của anh để không c̣n lo mất gốc, mất rễ.

Vĩnh biệt mà không vĩnh biệt Hải Linh, người con yêu dấu của Việt Nam và của Chúa.

Ph. D.

 

TOP

 

 

 

NHỚ HẢI LINH

* KIM ĐỊNH *

 

Nhớ Hải Linh là nhớ tới thời chúng tôi sống an vui ở Paris, nơi đất khách quê người chẳng quen ai, nhưng cứ sống như chim trời cá nước : không hề đặt vấn đề học bổng học biếc chi cả, mặc cho bên nhà cứ gửi sang hết nhóm chủng sinh này đến nhóm nữ tu kia, trên mười mấy mạng, không hề từ chối. Hễ bên nhà đủ sức gửi th́ bên này cũng đủ sức đón nhận.

Chính trong bầu khí AN VI đó mà HẢI LINH được gửi sang Rome học Nhạc. Nhưng chỉ ít lâu, Hải Linh ngỏ ư muốn qua Pháp là tôi chấp nhận liền. Lúc ấy, chúng tôi đă tậu được một apartment 3 pḥng ở 21 Beaurepaire, thuộc quận 10 tại Paris. Tôi để Hải Linh ở một pḥng và Hải Linh bắt đầu đi học Nhạc tại trường Cesar Frank. C̣n rảnh th́ giờ nào th́ phân tích các bài dân ca. Lúc ấy tôi đang đi t́m Triết Đông nên rất thích thú nghe Hải Linh nói về Nhạc, v́ tôi gặp thấy trong dân nhạc nhiều điểm giống với Triết Đông. Chẳng hạn Nhạc Việt theo hệ thống ngũ cung th́ Triết Đông căn cứ trên Ngũ Hành… Nhạc là Nữ Vương Nghệ Thuật. V́ bản tính nghệ thuật là H̉A mà NHẠC th́ H̉A từ trong bản tính, nên ta quen nói Ḥa Âm, Ḥa nhạc, Ḥa tấu…

Triết cũng là Nữ Hoàng các Khoa Học v́ khi đi được đến cùng cực th́ đạt THÁI H̉A cũng là đạt thập thành, đạt đủ 4 đức tính của nền Triết là VĂN – LƯ – MẬT – SÁT. Do vậy mà tôi không chuyên về Nhạc cũng rất thích nói chuyện với Hải Linh về Nhạc.

Tôi thường giục Hải Linh t́m ra trong Nhạc Việt xem cơ cấu nào đặc trưng tương tự như của Nhật Bản : nghe là biết được âm nhạc của Nhật liền, không lẫn đi đâu được. Hải Linh nói có nhưng v́ ḿnh có đến 3 Miền nên không nổi bật lên như thế được.

Trong thời gian này, Hải Linh bắt đầu sáng tác những nhạc phẩm như : Nhạc Việt, Chinh Phụ Ngâm, Cung Đàn Bạc Mệnh… có những câu láy mà Hải Linh lướt trên piano được, c̣n người học thành tài không sao diễn tả nổi.

 

~~*~~

 

Hải Linh kể cho tôi nghe chuyện người Nhật Bản kia vào đặt cho thợ chế piano làm sao có thể đánh được mọi quăng. Thợ lắc đầu : làm sao nổi, may ra chỉ có những đàn dây như violon hay đàn độc huyền mới chơi được. Tôi hỏi vậy tại sao Hải Linh đánh được như thế. Hải Linh trả lời : cũng không hiểu tại sao lại đánh được liền như thế. Đó là điều lạ v́ Hải Linh rất khó tính trong vấn đề ca hát, phải đi đúng từng li từng tí kiểu văn, lư, mật, sát, như trong triết mới chịu. Vậy mà Hải Linh lại đánh lên được theo những yêu sách tế vi kia.

Thời đó tôi đoán là Hải Linh không những có tài mà c̣n là thiên tài chưa chừng. Điều do tôi dự đoán lúc ấy th́ sau đă được ông Guy de Leoncourt Viện Trưởng Âm Nhạc Viện Cesar Frank quyết đáp khi ông nói : Hải Linh là một trong hai thiên tài mà ông gặp được trong đời dạy học của ông. Tôi thỏa măn câu này coi như một kiện chứng cho một ư nghĩ của tôi, v́ thời ấy Hải Linh chưa biểu lộ hết tài năng cũng như tôi chưa đi vào triết sâu đủ để có thể đưa ra được định nghĩa thế nào là nhân tài. Măi sau nhiều quan sát, nhận định tôi mới đi đến kết luận thiên tài là khả năng hoàn thành được một cái ǵ đặc sắc, làm bền bĩ và thường làm cách sảng khoái.

Giữa năm 1986, khi Hải Linh trở lại Mỹ có đến thăm tôi được vài giờ, tôi nói với Hải Linh : chúng ta là những người may mắn nhất trên đời v́ trải qua bao cuộc bể dâu thế mà hai ta đă hội được khá đủ điều kiện để hiện thực lư tưởng cao nhất của cuộc đời là làm được điều ḿnh có khả năng hơn hết và dồn vào đó trọn bầu sinh lực của ḿnh.

Chúng tôi cũng vội hâm lại những mộng án xưa về đoàn ca nhi mà chúng tôi tính sẽ thiết lập sau này để hỗ trợ cho các bài nói chuyện về triết Việt… Hải Linh có cho tôi biết là đă sáng tác một bản ḥa tấu : Chuông Ḥa B́nh trong bài đó có một ít lời mà Hải Linh có dành riêng cho tôi đọc. Hải Linh bảo không muốn để ai khác đọc v́ bài đó đă được gợi ư cho chữ H̉A mà hai người thường nói với nhau xưa. Rồi Hải Linh nhắc lại câu " Ma Y Thần Tướng" mà tôi hay nói với Hải Linh :

 

Khan khan giọng cổ tiếng cười,

Quăn quăn tóc trán là đời khôn ngoan.

Đêm ngày tư lự lo toan…

 

Tháng 7 năm 1986 tại Hội Nghị Thánh Nhạc Hoa Kỳ, trước khoảng 800 ca nhạc sĩ,nhạc công Hoa Kỳ, Hải Linh đă điều khiển Ban Hợp ca Việt Nam gồm 80 ca viên. Các nhạc sĩ, nhạc công Hoa Kỳ đă chứng kiến tận mắt kỹ thuật điều khiển vừa độc đáo, vừa tinh vi và đă đề cao Hải Linh như một thiên tài hiếm có. Sau khi Hải Linh rời bục điều khiển, Linh mục Chủ tịch Hội nghị Thánh Nhạc Hoa Kỳ, Cha Virgil C. Funk, tiến tới trước mặt Hải Linh trong một cử chỉ kính cẩn :" Tôi không có một lời nào xứng đáng để ca tụng tài năng nghệ thuật của ông.Tất cả đều được đặt dưới bàn tay điêu luyện của ông…"

Tôi đang hí hửng v́ Hải Linh sẽ có dịp biểu diễn tài năng trên đường quốc tế dịp lễ Phong Thánh th́ th́nh ĺnh được điện thoại cha Trác báo tin Hải Linh qua đời. Tự nhiên tôi nhỏ mấy giọt lệ khóc tiễn đưa một người bạn thân. Và trong ḷng tôi bỏ mộng án về đoàn ca nhi đă nhen nhúm trở lại trong ḷng tôi với một căn cứ cụ thể. Tôi th́ thầm với Hải Linh : Hải Linh ơi! Thôi từ biệt Hải Linh nhé và tôi cũng từ bỏ luôn ư định lập đoàn ca nhi ở trần gian này. Xin Hải Linh lên trên ấy liệu tập đoàn ca nhi thiên thần cho ngày kia tôi lên, chúng ta cùng khai mạc những buổi triết nhạc siêu việt dưới mắt từ mẫu Maria, c̣n đời này vậy là hết.

Rồi tôi lau nước mắt và lấy lại niềm vui thường pha lẫn những hài hước như lúc chúng tôi sống ở Paris. Tôi liền lẩm nhẩm bài hát đầu tay của Hải Linh mà dịp "cách mạng" có em bé chăn trâu đă đổi lời đi rồi trèo lên cây xoan hướng phía trường thầy giảng Bùi Chu hát to, lúc các thầy đang suy ngắm, làm cho cả nhà bị một bữa nín cười đau đến quặn ruột :

Mẹ ơi đoái thương xem đến bà Nam !

Bà ấy ốm quá sức lẽ ḿnh !

Bà ấy không ăn được tí ǵ đâu,

Cho bà ấy tí cháo "hoa hành"

Tôi đổi "bà Nam" ra "thầy Linh", "bà ấy" ra "thầy ấy", "tí cháo hoa hành" đổi ra "ít phút kinh cầu"

 

REQUIESCAT IN PACE

 

TOP

 

 

 

ĐƯA NHẠC VÀO THƠ

MỘT NGÓN TÀI HOA CỦA HẢI LINH

 

1. Đọc "Kinh Thi" – một trong Ngũ Kinh của Trung Quốc xưa – mới thấy vai tṛ quan trọng của ngôn ngữ như thế nào. Người Trung Quốc gọi đó là "nhạc phủ", bao gồm những bài thơ ngắn được phổ nhạc (dệt nhạc) thành bài ca để hát lên cùng với sự thể hiện cử điệu của thân ḿnh (vũ) và nhạc khí ḥa theo. Thí dụ :

Tương tống Lao Lao chử

Trường giang bất ưng măn

Thị nùng lệ thành hử

Tạm dịch là : Tiễn nhau qua bến Lao Lao,

Chốn Trường Giang ấy có bao giờ đầy

Bồi hồi giọt lệ thương ai

Nước gịng sông vẫn tuôn dài mênh mông.

 

Nhạc từ, ca từ hay lời hát (paroles, lyrics) là một yếu tố quan trọng trong ca khúc, quyết định tính chất nghệ thuật diễn cảm của ca khúc đó. Khác với một cầm tấu khúc hay một ḥa tấu khúc chỉ cần được diễn tấu bằng các nhạc khí. Một ca khúc phải được con người mở miệng hát lên bằng tiếng, được qui ước theo tiết tấu, cao độ, trường độ và cường độ của phần nhạc. Lời hôn phối với nhạc để tạo ra một khúc ca hoàn chỉnh. Người nhạc sĩ có nhiều cách để làm ca từ : tự viết lời, phổ thơ hoặc hợp tác với một ai đó đặt lời… Đem thơ phổ thành nhạc, biến lời thơ trở thành nhạc từ là cách làm khá phổ biến trong âm nhạc Việt Nam. Chỉ riêng trong phương thức phổ thơ cũng đă có đến năm bảy cách, đại để là : phổ thơ, lời thơ, ư thơ, trích thơ, cảm hứng từ thơ v.v… Như vậy, mặc nhiên ta khẳng định mối quan hệ ruột –thịt- không- thể- cách- ly giữa thơ và nhạc. Thi ca là thế đấy. Ngôn ngữ thi ca là ngôn ngữ nghệ thuật, được chọn lọc, được thăng hoa và tự bản chất rất giàu nhạc tính. Khi phổ thành ca khúc, tùy vào tài năng và ngón nghề riêng của nhạc sĩ, bài thơ có thể được giữ nguyên vẹn cả về âm, vần, luật, bố cục hoặc có thể sửa đổi, thêm bớt chút đỉnh mà vẫn giữ được cái phần hứng, phần hồn của thơ. Nhưng dù ở một góc độ nào, bằng cung cách nào đi chăng nữa th́ các ca khúc thuộc dạng ấy đều ít nhiều sử dụng lời hoặc ư của nhà thơ. Cái lời cái ư gợi hứng, dẫn dắt nhạc sĩ làm ra giai điệu, cung bậc chứ không phải giai điệu, cung bậc sản sinh ra lời thơ, ư thơ. Trật tự, qui tŕnh ấy không thể đảo ngược, ngoại trừ khi ca khúc được cưu mang và sinh thành cùng một lúc trong tâm hồn người sáng tác. Trường hợp vừa là nhạc sĩ vừa là nhà thơ không phải là không có. Phạm Duy, Trịnh Công Sơn là những điển h́nh của điển h́nh. Dĩ nhiên c̣n một số trường hợp khác đáng được nhắc tới nữa. Nói không ngoa. Nếu chép riêng lời trong toàn bộ nhạc khúc của hai tác giả trên, sẽ được những từ, cụm từ, đoạn thơ, bài thơ mang giá trị cao về mặt văn học nghệ thuật. Cái mảng "t́nh ca" bất hủ của Phạm Duy và cái mảng "nhân sinh" vời vợi của họ Trịnh. Cứ nhẩm đọc lặng lẽ – không cần đàn hát – thế giới ngôn ngữ của họ, sẽ bắt gặp vô vàn âm sắc, h́nh tượng, tư tưởng, cảm nghiệm y như khi ta đến với tiểu thuyết, phim ảnh, kinh kệ. A. de Musset, P. Claudel, Apollinaire, R. Tagore, những bậc thầy kỳ vĩ của nhân loại, những biểu tượng sáng ngời về mối quan hệ tương giao giữa thi và ca.

 

2. Từ một tiền đề trên, tôi muốn tách bạch Hải Linh ra làm hai : Một Hải Linh – Thánh ca khởi hành từ cảm hứng riêng tư để rồi dừng lại ở nguồn suối Thánh Kinh và một Hải Linh – văn học, đồng điệu đồng cảm với một số tác giả tác phẩm văn học, đặc biệt là thơ của Nguyễn Du, Đoàn thị Điểm, Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư và cả đến những bài ca dao, đồng dao trong kho tàng văn học truyền khẩu dân gian. Vâng, tôi muốn nói đến cái tài hoa của Hải Linh trong lănh vực "phổ thơ", thơ đời, thơ t́nh và thơ đạo, điều mà xưa rày chưa ai đề cập khi t́m hiểu nghiên cứu và đánh giá về sự nghiệp của ông. Có lẽ do cái bóng của ông phủ xuống khu vườn thánh ca VN mấy chục năm lớn quá, rộng quá chăng ? Nay, xin mời bạn cùng tôi điểm lại xem cái ngón tài hoa ấy phát tiết như thế nào.

Có một điều trùng hợp rất lư thú là Hải Linh chào đời đúng vào ngày lễ thánh Phanxicô Assisi, vị đại thánh tổ sư của môi trường, kẻ rao giảng về chủ thuyết "thiên nhiên như một quyển sách mở". Nhấn mạnh chi tiết này để khẳng định rằng yếu tố thời gian, không gian có ảnh hưởng, tác đông trên con người ông. Chẳng thế mà – có lẽ do cảm hứng từ "Bài ca vũ trụ" của thánh bổn mạng ḿnh – nhiều lần trong chỗ riêng tư, ông đă thổ lộ tâm t́nh với các môn sinh ca trưởng, ca viên: "Vũ trụ bao la với muôn giải thiên hà, với mặt trời, mặt trăng, tinh tú, với trời mây, sông biển, núi rừng, chim muông và con người, tất cả là một bản hợp ca không ngừng ngợi khen Chúa Trời ". Người ta dễ dàng t́m ra giải đáp với những câu hỏi "Tại sao Hải Linh nặng ḷng với thi ca" đến thế ? Liệu có một nhà thơ trong con người ông chăng ? Không hẳn. Nhưng chắc chắn Hải Linh phải là người đồng hội đồng thuyền – Nous sommes embarqués – mà tâm hồn ông cũng vô cùng nhạy cảm như thanh kim khí diapason ̣a vỡ ngân vang kia. Phải rung động lắm, ông mới bước vào sự nghiệp sáng tác qua cánh cửa "ca văn dâng hoa", mảng thơ Nôm của dân gian nhà đạo. Lúc ấy buổi hừng đông của tân nhạc và thánh nhạc Việt Nam (1940-1945). Phải "tiền duyên nặng nợ" lắm với các vốn ngũ cung đă thành máu thịt, Hải Linh mới hào hứng t́m thầy học đạo để rồi ra trường với luận án tốt nghiệp đậm đặc mùi vị dân tộc "Màu sắc nhạc Việt trong b́nh ca" tại Nhạc viện César Franck (1956). Hiện tượng có thể đổi thay, mà bản chất th́ không bao giờ. Khi con phượng hoàng vỗ cánh bay lên trời cao, ấy là lúc nó hót líu lo vang động, tự do và thanh thản. Sự h́nh thành ca đoàn Hồn Nước (1957) – với tôn chỉ "Tôn vinh Thiên Chúa và tán tụng Quê Hương – suốt những thập niên 60 và 70 đă là những chứng từ rơ nét nhất.

 

3. Thật may mắn và t́nh cờ. Những năm trọ học ở Tiểu chủng viện Phanxicô Xavie Bùi Chu, những năm ở giảng đường Đại Học Văn Khoa Sàig̣n và làm nghề "gơ đầu trẻ" tại trường Nguyễn Bá Ṭng, tôi có dịp được mắt thấy tai nghe "người thật-việc thật" về Hải Linh, về ca đoàn Hồn Nước và cả những công đoạn tập tành, chuẩn bị ở hậu trường. Phải thành thật nh́n nhận rằng đây là thời điểm sung măn nhất của người ca trưởng – nhạc sĩ Hải Linh. Bên cạnh cái hậu phương lớn gồm Đức Cha Pet. Phạm Ngọc Chi, cha Trần Đức Huynh, cha G. Đinh Cao Thuấn, Lm. Nhạc sĩ Ngô Duy Linh (chỉ huy ban hợp xướng Chim Việt) v.v, tôi nghĩ (chắc không đến nỗi không chấp nhận được) c̣n một nhân vật khá quan trọng đă cộng tác chặt chẽ, đă đồng hành với ông khi đến với văn học VN. Đó là cha Pet. Vũ Đ́nh Trác với bút hiệu Vơ Thanh, tác giả ca từ của một số bài thánh ca do chính Hải Linh viết nhạc, ḥa âm. Sở dĩ tôi nhắc tới chất xúc tác này là v́ tôi biết rất rơ mối quan hệ mật thiết giữa hai người với nhau trong suốt quá tŕnh sáng tác và biểu diễn những năm 1957-1970. Tại sao chỉ có một Hải Linh – Thánh ca nhỉ ? Tài năng ấy – ví như tiếng đàn của Tư Mă Tương Như với đôi tai thẩm âm và tâm hồn đồng điệu của Trác Văn Quân - nếu giao duyên cùng Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Hàn Mặc Tử v.v… th́ hay biết mấy. Thế là cặp uyên ương "thơ nhạc" ấy lên đường, ra khơi. Hàng loạt tác phẩm ra đời và ca đoàn Hồn Nước, vào thời điểm đó, đă hoàn thành xuất sắc cái chức năng chuyển tải những thông điệp của thơ nhạc đến với công chúng.

Hăy nói về bài ca "chủ đạo" của Hồn Nước trước đă. Thú thật, tôi khẩu phục tâm phục cái thế giới ngôn ngữ của bài ca này. Tôi không dám bàn tí ǵ về âm nhạc đâu đấy nhé. Nghe Hồn Nước hát, cả hồn bé bỏng của tôi tan loăng ra, chỉ thấy hiu hắt đó đây lời gọi thuở nào của trời mây non nước. Bốn chục năm qua rồi, tôi vẫn c̣n mường tượng ra một chùm ngôn ngữ kỳ ảo : "Lắng nghe Hồn Non Nước. Nước non bao là t́nh. Chập chùng tranh Việt ai tô. Thóang trông c̣n nhớ thuở xưa tung hoành ". C̣n bài "Nhạc Việt" nữa. Bao nhiêu luyến láy, ngân nga trong dấu giọng của tiếng Việt đă được Hải Linh khắc họa đến từng chân tơ kẽ tóc. Thương quá những từ điệu VN : à mà, là, chứ, t́nh bằng… Tôi đọc lại nguyên văn thế này : "Nhạc Việt, nhạc Việt hệ thống (t́nh bằng) có năm cung (fa, sol, la, đô, rê). Nắn (a) theo (à mà theo là) năm dấu (rê đô la đô rê) tiếng (a) chung, tiếng (a) chung của giống (a) ṇi (fa sol fa đô rê). Đủ mầu (mà t́nh lại) đủ sắc (chứ mà ) đủ hơi (fa sol la đô rê). Tả t́nh (à mà t́nh là) tả ư (chứ mới) tả đời (chứ đời là đời) Việt Nam (rê mi fa sol si). Buồn trông khói lửa chiến chinh. Buồn ḷng chinh phụ, xót t́nh chinh phu. Buồn khi hạn hán thiên cơ. Buồn nghe nức nở mơ hồ giọt thu ". Năm 1958, nhân ngày giỗ (22.9) đại thi hào Nguyễn Du, lần đầu tiên truyện Kiều được phổ nhạc. Trước đây cha ông ta chỉ bói Kiều và lảy Kiều, nay hát Kiều. Tài t́nh quá. Nguyễn Du và Hải Linh cùng "kể lể" : Trăm năm trong cơi người ta , để rồi bắt sang những tâm sự chết người của "cung đàn bạc mệnh" :

 

Khúc đâu Tư Mă Phượng cầu…

Khúc đâu Hán Sở chiến trường…

Kê khang này khúc Quảng Lăng…

Thiệt ḷng ḿnh, cũng nao nao ḷng người…

 

Hóa ra, khi gặp thi ca, tài năng âm nhạc của Hải Linh bỗng xuất thần. Những lựa chọn của ông khiến ta phải suy nghĩ. Tại sao cả mấy trăm câu song thất lục bát của Chinh Phụ Ngâm, Hải Linh chỉ dừng lại ở "Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt" hoặc "Chốn Hàm Dương chàng c̣n ngoảnh lại… Khói Hàm Dương cách Tiêu Dương mấy trùng …"  Nhưng có lẽ cuộc hội ngộ trùng phùng tâm đắc nhất đă diễn ra giữa thơ Han Mặc Tử và nhạc Hải Linh. Họ gặp nhau trong một đức tin, giữa trời mới đất mới, giữa cơi thánh thiêng của Chúa Trời, của ơn Cứu Rỗi, của mùa Xuân Nhập Thể, của Mẹ Sầu bi và của cả tiếng gọi âm thầm mà mănh liệt của trái tim. Thơ và nhạc ở đây đă chan ḥa vào nhau như ánh sáng và hơi nóng của ngọn lửa, chắp cánh cho nhau, bay lên, bay lên chín cơi thiên đàng. Tôi ghi lại phần lời thơ của Hàn Mặc Tử để mời bạn cố h́nh dung, nhớ lại nguồn nhạc vô biên của Hải Linh trong từng trường hợp.

Ai hăy làm thinh, chớ nói nhiều

Để nghe dưới đáy nước hồ reo

Để nghe tơ liễu run trong gió

Và để xem trời giải nghĩa yêu

 (Đà Lạt trăng mờ)

 Maria, linh hồn tôi ớn lạnh

Run như run thần tử thấy long nhan

Run như run hơi thở chạm tơ vàng

Nhưng long vẫn thấm nhuần ơn tŕu mến

 (Ave Maria)

 

C̣n nhiều, ở nhiều bài khác của Hàn Mặc Tử : Ra đời, Tấu lạy Bà, Duyên kỳ ngộ. Của Lưu Trọng Lư, Y Vân nữa. Nghệ thuật muôn đời không phải là kỹ thuật. Phổ thơ là một nghệ thuật đ̣i hỏi người nhạc sĩ phải- có – tâm – hồn thơ – như – nhà thơ, là – nhà – thơ. Tiếp xúc với ca dao, với Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư…, Hải Linh giúp chúng ta đến gần và yêu mến văn học, yêu mến thi ca hơn. Điều này không phải ai cũng làm được. Xin cảm ơn người ca trưởng – nhạc sĩ tài hoa Hải Linh.

 Ngoại ô, 1.1.1998 .

 

TOP

 

 

 

TIỂU SỬ

CỐ NHẠC SƯ PHANXICÔ HẢI LINH

 

 

1) 04-10-1920 : Là ngày lễ thánh Phanxicô Atxidi, cũng là ngày sinh của Nhạc sư Hải Linh, và thánh Phanxicô được chọn làm bổn mạng cho nhạc sư. Nơi sinh là làng Ứng Luật, phủ Kim Sơn, tỉnh Ninh B́nh, địa phận Phát Diệm. Tên thật là Trần Văn Linh (ngày sinh trên khai sinh là 30-10)

Thân phụ là ông cố Trần Văn Minh, thân mẫu là bà cố Nguyễn Thị Lan, thường gọi là ông bà chánh Minh. Gia đ́nh có 7 người con, gồm 5 người con trai và 2 người con gái. Hải Linh là con trai thứ hai, c̣n anh cả đă qua đời lúc c̣n thanh niên. Một người em trai thứ 6, là cố LM Trần Công Hoan, tức nhạc sĩ Hùng An, cũng đă qua đời tại xứ Duyên Lăng, địa phận Xuân Lộc. Hiện c̣n sống có (ông Trần Du Dương ở Đồng Nai), bà Trần Thị Tính, tức bà Phạm Chính, ở đường Bà Hạt, xứ Bắc Hà, bà Trần Thị Mến ở Cái Sắn và ông Tần Văn Khiết ở Thủ Đức. Thân phụ làm nghề đắp tượng, c̣n thân mẫu làm "bà trùm" lo việc dạy "học tṛ" dâng hoa, dâng hạt, ngắm lễ… tại xứ Ứng Luật. Đôi tay khéo léo của thân phụ trong nghệ thuật đắp tượng và tiếng ca hồn nhạc đượm tính tôn giáo và dân tộc của thân mẫu trong nghệ thuật âm thanh đă góp phần làm nên một con người nghệ sĩ, rất nhạy cảm trước cái hay cái đẹp của nghệ thuật nói chung và của âm nhạc nói riêng.

 

2) 1930 - 1940 : Lên 10 tuổi, Hải Linh được gia đ́nh gửi đến cha già Trác để chuẩn bị đi tu. Năm 12 tuổi, vào trường Thử ở Trung Linh (Nam Định), tại đây Hải Linh được cố Lễ (tức cố Rangel) tập luyện ca hát và khơi mầm năng khếu âm nhạc. Hải Linh đă sớm say mê âm nhạc, tự t́m ṭi học hỏi thêm nên tiếng đàn giọng hát của Hải Linh hứa hẹn một tương lai khác thường hơn các bạn cùng tuổi. Năm 16 tuổi, lên Tiểu chủng viện Ninh Cường, ở đó Hải Linh đă phụ trách việc tập hát và đệm đàn nhà thờ. Năm 18 tuổi, đi giúp xứ An Bài, phụ trách tập hát và trông coi Nghĩa binh Thánh thể.

 

3) 1940 - 1950 : Năm 20 tuổi, Hải Linh vào học tại trường Thầy Giảng (Bùi Chu) và sau đó được giữ lại để dạy Pháp văn và âm nhạc tại trường. Đây là thời gian Hải Linh bắt đầu sáng tác một số bài hát đạo cũng như đời. Có lẽ bài hát đạo đầu tay của Hải Linh là bài :"Mẹ ơi, đoái thương xem nước Việt Nam" vào khoảng 1944. Hải Linh cùng với Vũ Minh Trân và một số bạn hữu khác như Thăng Ca (Ngô Duy Linh), Vơ Thanh (Vũ Đ́nh Trác), Hồ Khanh (Trần Thái Hiệp)… thành lập Nhạc đoàn Sao Mai, và đă xuất bản nhiều tập ca vịnh như : Ca vịnh Đức Mẹ (1946), Ca vịnh Đức Mẹ Fatima – Thánh cả Giuse (1949), Ca vịnh Thánh Tâm – Thánh Thể (1949)… Trong số các bài của thời kỳ sơ khởi này như "Ḷng con đau đớn thiết tha…", "Ngày nay con đến", "Nguyện xin Thánh cả Giuse quyền cao sang…", nổi bật nhất là bài "Hang Belem", sáng tác cho mùa Giáng sinh 1945. Chính tác giả đă điều khiển ca đoàn nhà thờ chánh ṭa Phát Diệm hát lần đầu tiên trong thánh lễ đêm Giáng sinh năm ấy. Cha Giám đốc Đại chủng viện là LM Phạm Ngọc Chi đă khen ngợi, và từ đó lưu tâm khuyến khích Hải Linh học hỏi và sáng tác thêm. Sau này, khi làm Giám mục địa phận, chính Ngài đă gửi Hải Linh đi du học về âm nhạc ở nước ngoài vào năm 1950.

 

4) 1950 - 1956 : Lúc đầu được gửi đi Roma, nhưng 5 tháng sau đổi qua Pháp. Từ 1-5-1951 học nhạc tại Viện Giáo Nhạc thuộc Institut Catholique de Paris, đồng thời học sáng tác tại Trường Nhạc CÉSAR FRANCK do giáo sư Guy de Lioncourt làm giám đốc và trực tiếp hướng dẫn Hải Linh. Chính Giáo sư đă thổ lộ, theo lời kể của Cố Nhạc sĩ LM Hoàng Kim :" Trong suốt cuộc đời dạy học của tôi, tôi chỉ gặp được 2 người có tài, một người Nhật, làm trưởng ban nhạc Đài Phát thanh Nhật Bản và người thứ hai là Phanxicô Hải Linh ".

Ngoài việc học chính thức tại 2 trường nói trên, Hải Linh c̣n t́m học thêm hoặc trao đổi thêm với một số giáo sư nổi tiếng khác về ngũ âm cũng như về điều khiển. Các tác phẩm trong thời kỳ du học tại Paris đă nói lên thao thức t́m một nhạc ngữ phù hợp với ngôn ngữ đa thanh của dân tộc : CHÚA KHẢI HOÀN, AVE MARIA 1, NGỢI KHEN, nhất là các bài RA KHƠI, NHẠC VIỆT, H̉ NON NƯỚC, CÓC QUÂN, DUYÊN KỲ NGỘ, CHUÔNG H̉A B̀NH, LÂM KHỐC … mang đầy âm hưởng dân tộc. Giáo sư Guy de Lioncourt đă nhiều lần tỏ vẻ thích thú khi nghe "Monsieur Francois" (Người Pháp gọi Hải Linh bằng tên thánh Phanxicô) giải thích tại sao chỗ này th́ viết thoáng mỏng, chỗ kia phải đơn giản hóa ḥa âm, chỗ khác phải viết theo tinh thần đối âm, chỗ khác nữa lại phải đi cùng chiều thay v́ có thể đi ngược chiều… chung qui là cốt đề cao tính giai điệu của nhạc ngữ dân tộc và nhất là tôn trọng thanh điệu (dấu giọng) của ngôn ngữ Việt Nam. Một người du học không mất gốc, một học tṛ biết tự trọng và được người Thầy xứng danh là bậc Thầy tôn trọng và thán phục quí mến. Từ đó, Hải Linh càng ngày càng xác tín hơn về hướng đi của ḿnh trong công việc đưa nhạc ngữ dân tộc từ bậc giai điệu ( đơn điệu ) lên bậc đa âm đa điệu. Và hai chủ đề chính cho các sáng tác của ḿnh sẽ là : TÔN VINH THIÊN CHÚA và TÁN TỤNG QUÊ HƯƠNG.

 

5) 1956 - 1961 : Trở về quê hương, ngoài việc dạy Hợp ca tại Viện Quốc gia âm nhạc, Hải Linh thành lập Ca đoàn HỒN NƯỚC nhằm thực hiện hoài băo của ḿnh là TR̀NH TẤU SỐNG ĐỘNG các tác phẩm được soạn ra bằng một LỐI VIẾT THOÁNG MỎNG theo tinh thần Á Đông. Thành lập vào tháng 02/1957 th́ tháng 6/1957 đă sơ diễn tại rạp Thống Nhất trong dịp lễ phát thưởng của trường Nguyễn Bá Ṭng, nhưng đến 23/12/57 mới là buổi ra mắt công chúng đầu tiên tại rạp Olympic, và Ca đoàn Hồn Nước dưới sự điều khiển của Hải Linh, đă được hoan hô nhiệt liệt. Và tiếp tục trong những năm sau, những lần tŕnh tấu của Ca trưởng Hải Linh đều có tiếng vang… Các bài sáng tác trong thời kỳ này gồm có : AVE MARIA 3 (Tấu lạy Bà), RA ĐỜI, NỮ VƯƠNG H̉A B̀NH, ĐÀLẠT TRĂNG MỜ, L̉NG MẸ, CUNG ĐÀN BẠC MỆNH 1,2,3, CHINH PHỤ NGÂM, CHUỖI CƯỜI… Riêng bài NỮ VƯƠNG H̉A B̀NH đoạt giải nhất trong cuộc thi sáng tác cho Đại Hội Thánh Mẫu toàn quốc năm 1959. ( Lập gia đ́nh với cô Phạm Thị Ly 05/02/58).

 

6) 1961 - 1970 : Được học bổng sang nghiên cứu âm nhạc, giáo dục tại Đại học Ohio (Hoa Kỳ). Tại đây, cũng được các Nhạc trưởng, nhạc công và khán thính giả Hoa Kỳ tán thưởng, nhất là trong lối tŕnh diễn sống động và tinh vi. Năm 1969 sang Pháp dự định hoàn thành luận án tiến sĩ về "Cơ cấu giai điệu trong nhạc Việt", nhưng v́ một số lư do bên ngoài, nên phải bỏ dở luận án.

 

7) 1970 - 1975 : Trở về nước lần này, ngoài việc dạy nhạc tại Đại học Đà Lạt, Nhạc sư Hải Linh tham gia Ủy ban Thánh Nhạc toàn quốc, tiếp tục củng cố ca đoàn Hồn Nước và thực hiện các cuốn băng : MỘT GIỜ HỢP CA 1 và 2. Đồng thời dạy nhiều lớp Ca trưởng tại Saigon và Đà Lạt. Sáng tác thêm : TE DEUM, AVE MARIA 2, Bộ lễ NỮ VƯƠNG H̉A B̀NH, HỒNG ÂN THIÊN CHÚA, THẰNG BỜM, TIẾNG THU, CON BƯỚM TRẮNG, ĐỒNG TIỀN VẠN LỊCH … Đại hội Thánh Nhạc Toàn Quốc năm 1972 tại trường Lasan Taberd cũng là một cái mốc đáng ghi nhớ trong giai đoạn này.

 

8) 1975 - 1986 : Tiếp tục dạy Ca trưởng, phần lớn tại tư gia. Cũng dạy đệm đàn, sáng tác cho một ít người. Tuy nhiên cũng có những lần mở lớp tập hát, những lần hát Thánh ca đây đó trong khuôn khổ Nhà nước cho phép. Đặc biệt, bài KHÚC CA MẶT TRỜI được hát lần đầu tiên tại Nhà thờ Đa-kao 10-79, nhân kỷ niệm 50 năm Ḍng Phanxicô được thành lập tại Việt Nam. Và năm 1982, nhân kỷ niệm 800 năm ngày sinh của Thánh Tổ phụ Phanxicô th́ phần lớn TRƯỜNG CA CÁC TẠO VẬT cũng đă hoàn tất và được tŕnh tấu lần đầu cũng tại nơi đây. Dịp nầy, Thầy đă lập Nhóm QUÊ HƯƠNG để vừa học vừa góp tay thực hiện các chương tŕnh Thầy đề ra: Phác hoạ và khai triển các chương trong 2 cuốn sách "LỐI VIẾT THOÁNG MỎNG" và "LỐI TR̀NH TẤU SỐNG ĐỘNG", cùng với mấy học tṛ c̣n lại.

Các bài hát khác được sáng tác trong giai đoạn này gồm có: VINH DANH THIÊN CHÚA, PHƯỢNG TR̀, KINH LẠY CHA, KHÚC NHẠC CẢM TẠ, CHÚC TỤNG THÁNH GIUSE, T̀NH NƯỚC NON, HOAN CA MÙA TRƯỜNG XUÂN, THƠ THƠ 1, 2, TÁN TỤNG HỒNG ÂN, T̀NH CHÚA YÊU TÔI, BẾN THIÊN ĐÀNG, YÊU CON ĐỜI ĐỜI, MÙA HỒNG ÂN, MẸ VÔ NHIỄM, XUÂN VỀ, … (Các bài từ Tán tụng Hồng Ân trở đi là soạn chung với một số tác giả khác).

 

9) 1986 1988 : 14g45 ngày 08/05/1986 rời Sân bay Tân Sơn Nhất đi đoàn tụ gia đ́nh tại Mỹ. 13g05 ngày 19/05 tới sân bay San Francisco. 20/05 về cư ngụ tại New Orleans, bang Louisiana, cùng nơi với Linh mục Ngô Duy Linh.

Chưa kịp nghỉ ngơi, th́ đă phải tập dượt cho Ca đoàn Hợp tuyển VN, để hát tại Đại hội mục vụ Thánh nhạc toàn quốc tổ chức tại New Orleans chiều 01/07/1986. Tại đây gần 800 người gồm Ca trưởng, nhạc công Dương cầm, Quản cầm và các nhạc sĩ sáng tác công giáo Mỹ đă cảm phục tài nghệ của Nhạc sư. Cha Virgil Funk, chủ tịch Hiệp hội Ca nhạc sĩ mục vụ Hoa Kỳ đă lượng giá sự đóng góp của VN tại Đại hội như sau : " Về lượng, các ông có vẻ yếu kém ( chỉ có 80 ca viên ), nhưng về phẩm th́ phái đoàn VN đă ghi được thành tích đáng kể. Điều đáng kể thứ nhất là VN đă cho thính giả và các chuyên gia âm nhạc thánh ca Mỹ, thưởng thức những ca điệu VN rất độc đáo và hấp dẫn. Điều đáng kể thứ hai là Nhạc sĩ Hải Linh đă xuất hiện như một biến cố âm nhạc cao siêu và kỳ tài ". Hôm đó, nhạc sư điều khiển bài Tán tụng Hồng ân và Hồng ân Thiên Chúa.

Kế đó, mở các lớp Ca Trưởng tuần tự ở nhiều Tiểu bang khác nhau (New Orleans(LA), California, Portland (Oregon), Missouri, Texas…). Đồng thời, tập dượt cho nhiều Ca đoàn ở nhiều nơi khác nhau để hát trong nhiều dịp lễ. Trong gần 20 tháng ở Mỹ, Nhạc sư đă tập dượt để điều khiển trên 12 buổi ca hát chính thức. Buổi điều khiển có ư nghĩa sau cùng đối với Nhạc sư có lẽ là đêm Giáng Sinh 24/12/1987 Tại họ Đức Mẹ Lên Trời ở Avondale, bang Louisiana, khi bài Thánh ca Hang Bê-lem tṛn 42 tuổi. Và trách nhiệm nặng nề lo tập hát cho Đại lễ 88 tại Roma là nỗi ưu tư lo lắng nhất cuối đời Nhạc sư. Đă sáng tác thêm một số bài hát cho dịp này, như NHÂN CHỨNG ĐỨC TIN, BÀI CA KHẢI HOÀN… Đă lên chương tŕnh tập dượt ở nhiều nơi.

 

Ngày 05 / 01 / 1988 , lúc 5giờ chiều, Nhạc sư rời New Orleans đi Los Angeles để tập hát theo chương tŕnh dự tính, th́ đêm hôm ấy tới nơi trong một trạng thái mệt mỏi, khó ngủ. Một phần tuổi già, một phần lớn sức yếu v́ bao công việc dồn dập và liên tục, cộng thêm với bao lo lắng ưu tư cho lư tưởng Hợp ca, sáng hôm sau, Nhạc sư bị đau nặng phải đưa đi bệnh viện. Nhạc sư đă từ trần v́ nhồi máu cơ tim, lúc 6giờ30 chiều ngày 6-1-88 tại bệnh viện Fountain Valley.

 

Ngày 13 / 01 , Thánh lễ tiễn đưa lúc 17giờ15 tại Thánh đường Saint Callitus (Cộng đồng Tam biên). Sau đó linh cữu được đưa về New Orleans (trên chuyến bay 798 Delta Airlines).

 

Ngày 16 / 01 , lúc 9 giờ, linh cữu được chuyển từ Westside Funeral Home tới nguyện đường Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời để cử hành lễ an táng cuối cùng. Sau đó, linh cữu được chuyển đến Nghĩa trang Avondale, nơi an nghỉ cuối cùng của Nhạc sư, tọa lạc tại Restlawn Park Cemetery, Garden of Family Devotion, Block H, Square G, Plot 22, Lot 2.

 

 

 

     
 

Lm Nguyễn Xuân Thảo viếng mộ

nhạc sư Hải Linh và Ngô Duy Linh

 

Soeur Thiên Lan viếng mộ

Nhạc Sư Hải Linh

  

 

Nhạc sư Hải Linh ra đi thật đột ngột, bất ngờ, để lại bao kính thương, luyến tiếc. C̣n bao nhiêu công việc đang dở dang chưa kịp hoàn tất, dù rằng những ǵ đă hoàn tất cũng đă là một đóng góp to lớn cho nền âm nhạc nói chung, và cho Việt Nam nói riêng. Đó là khoảng 60 bài để TÔN VINH THIÊN CHÚA, 60 bài để TÁN TỤNG QUÊ HƯƠNG, với trên dưới 40 bản đệm đàn, bản dạo đàn, cũng như trên 10 tập tài liệu soạn ra để huấn luyện Ca trưởng, dạy đệm đàn, dạy sáng tác…

Đóng góp quan trọng nhất, qua tất cả những ǵ Nhạc sư sáng tác và dạy lại, đó là một LỐI VIẾT THOÁNG MỎNG đượm tính dân tộc, khả năng diễn đạt phong phú và tinh vi những cảm xúc của con người Việt Nam trước Đấng Tạo hóa cũng như trước Quê Hương Đất Nước, trước nhân t́nh thế thái, bằng chính ngôn ngữ Việt Nam với nguyên vẹn các ấn tín thẩm mỹ dân tộc, đi đôi với LỐI TR̀NH TẤU SỐNG ĐỘNG nhờ cách Điều khiển sắc bén, hiệu nghiệm và ngoạn mục, nhờ cách đệm đàn khéo léo và chọn lọc, nhờ cách hát theo tinh thần của Tiết tấu, với một lối phát âm "tṛn vành rơ chữ" như cha ông ta thường nói.Đóng góp đó, Nhạc sư muốn cô động lại trong 2 cuốn sách mang cùng tên với hai chủ đề trên. Tuy chỉ mới dự thảo c̣n cần khai triển và biên soạn, nhưng với tất cả những ǵ để lại cũng như truyền đạt cho hậu bối, Nhạc sư Hải Linh đáng là bậc Thầy có công lớn trong nền âm nhạc Việt Nam.

 

 

QUÊ HƯƠNG

thực hiện

~*~

 

TOP