|
Tưởng Niệm
Cố nhạc sư Phanxicô Hải Linh 04/10/1920 – 06/01/1988
06 – 01 – 2008 tại Giáo xứ Phanxicô Đakao (Xin bấm vào để xem một số h́nh ảnh) Nhân dịp nầy, chúng tôi đă phát hành tại Việt Nam cuốn sách "Chương Tŕnh Huấn Luyện Ca Trưởng II" kèm theo bộ DVD thực tập điều khiển. Chúng tôi cũng cho in cuốn "Music Ministry: The Inculturation of Liturgical Vocal Music in Vietnam" bàn về việc hội nhập văn hóa nhạc phụng vụ Công giáo tại Việt nam, qua đó chúng tôi t́m về nhạc ngữ dân tộc trong Dân ca Việt Nam, trong Cung Kinh, Cung Sách, Cung Văn trong truyền thống Công giáo Việt Nam, và mẫu mực hội nhập văn hóa trong Âm nhạc của nhạc sư Hải Linh. Xin xem bài giới thiệu của GS. TS. Trần Văn Khê Xem bài viết về Âm nhạc Hải Linh Xem một số tác phẩm của Hải Linh
Lễ giỗ 10 năm 06-01-1998 tại Nhà thờ Chính ṭa Sai gon
NỘI DUNG CUỐN TƯỞNG NIỆM 1. Lời nói đầu 2. Bút tích của thầy Hải Linh 3. 10 năm nhớ nhạc sĩ – ca trưởng Hải Linh 4. Đôi lời của Lm. Trưởng Ban Thánh Nhạc 5. Một nén hương tưởng niệm 6. Phỏng vấn tác giả nhạc phẩm bất hủ "Hang Belem" 7. Chị Chết (Nhạc) 8. Điếu văn Ngày vĩnh biệt Hải Linh 9. Nhớ Hải Linh 10. Đưa nhạc vào thơ, một ngón tài hoa của Hải Linh. 11. Tiểu sử cố nhạc sư Phanxicô Hải Linh
Cùng với tập TƯỞNG NIỆM nầy, chúng tôi cũng thực hiện bộ BĂNG H̀NH đi kèm cuốn Sách CHƯƠNG TR̀NH HUẤN LUYỆN CA TRƯỞNG I (PXB 1139/CXB-QLXB ngày 15-12-79), để kỷ niệm 10 năm ngày Thầy qua đời.
Có nhiều người hiểu biết về âm nhạc, nhưng ta không gọi tất cả họ là nhạc sĩ. Có nhiều người giảng dạy về âm nhạc, nhưng không phải tất cả họ đều là nhạc sư. Giá trị nghệ thuật của tác phẩm làm thơm danh người nhạc sĩ sáng tác, chứng minh cho tài năng của họ. Người nhạc sĩ tích lũy được nhiều vốn liếng do thiên khiếu và do nghiên cứu học hỏi, lại biết đem vốn ấy ra mà gây lời cho xă hội bằng những tác phẩm nghệ thuật của ḿnh, và nhất là khai phá một hướng đi thích hợp và truyền thụ lại cho hậu thế những xác tín, những phương thế để đạt đến mục tiêu, người nhạc sĩ đó xứng đáng là bậc thầy, bậc "sư", và nhạc sư chính là danh xưng của riêng họ. Theo ḍng suy nghĩ đó, th́ nhạc sĩ Phanxicô HẢI LINH cũng xứng đáng được gọi là nhạc sư, v́ những đóng góp của nhạc sĩ trong 2 lănh vực sáng tác và tŕnh tấu, được cô đọng lại trong 2 đề sách: I. LỐI VIẾT THOÁNG MỎNG; II. LỐI TR̀NH TẤU SỐNG ĐỘNG . Để thấy phần nào những điều đó, mời quí vị lần xem những trang sách nầy, với những chứng từ của nhạc sư lúc sinh thời, cũng như của một số chứng nhân khác nói về nhạc sư từ sau khi đă qua đời cho đến nay. Những trang sách tương tự chúng tôi đă thực hiện cách đây 7 năm. Nay nhân dịp giỗ 10 năm của nhạc sư, chúng tôi soạn lại cuốn Tưởng Niệm nầy, cùng với bộ băng vi-đê-ô Ca Trưởng I (Những Bước Khởi Đầu) đi kèm với cuốn sách cùng tên trong bộ Chương tŕnh Huấn luyện Ca trưởng, tức là bộ "Lối Tŕnh Tấu Sống Động", như một lời tri ân sâu xa đối với vị Thầy đă dày công vất vả chỉ giáo cho học tṛ, để chỉ ước mong sao được măi măi TÔN VINH THIÊN CHÚA VÀ TÁN TỤNG QUÊ HƯƠNG.
Xuân Thảo –
Nam Hải – Thiên Lan
DI-CẢO CỦA THẦY HẢI LINH (trich từ một lá thư gửi về từ Mỹ, đầu tháng 7-1987)
Xin đánh lại cho rơ như sau: "Càng về già, càng ít để ư tới nếp sống và lối Tŕnh tấu của Mỹ v́ thiếu cái "Hồn", nên dành rất nhiều giờ chiêm ngưỡng vũ trụ bao la màu nhiệm là cả 1 Trường ca vô cùng vĩ đại do chính Chúa thượng trí đă sáng tác và đang điều khiển.-Càng ngắm càng thấy thêm nét tinh vi do tay Chúa phác họa tuyệt vời, qua gió thổi, mây bay, hoa nở, suối reo. Với tất cả khiêm cung khâm phục, tôi sẽ hy vọng bổ khuyết dần tay nhịp trong tŕnh tấu và giáo khoa về Hợp Ca lư tưởng"
NHỚ NHẠC SĨ - CA TRƯỞNG HẢI LINH (6.1.88 - 6.1.98) Lê Đ́nh Bảng
Vào những ngày tháng này năm ngoái (6.1.96) tôi có cái may mắn t́nh cờ được đi theo anh chị em ca đoàn Quê Hương về hát lễ tại họ đạo Dầu Giây (Xuân Lộc), nhân dịp cộng đoàn xa xôi hẻo lánh này mừng kỷ niệm 100 năm thành lập. Ở giữa chốn "ba quân" với bạt ngàn xanh thẳm rừng cao su, tôi lại được gặp, được nghe, được cảm cái thế giới âm nhạc, ngôn ngữ của Hải Linh qua cách thể hiện mượt mà, "thoáng mỏng" và "sống động" của ca đoàn Quê Hương. Và ở đó, ở Suối Tre, ở Phúc Lâm, ở nhà thờ Đakao, ở xứ Vô Nhiễm, ở xứ Xây Dựng, tôi cũng được làm quen với cha Xuân Thảo, Nữ tu NS Thiên Lan, Ns Nam Hải, Ns Hương Vĩnh, Ns Hải Triều, Ns Trầm Hương.. những thế hệ môn sinh gần gặn, ruột thịt của Hải Linh. Điều nghe, thấy và tiếp cận gần xa ấy có tác dụng làm sáng tỏ thêm h́nh ảnh Hải Linh, người mà tôi chỉ h́nh dung, vẽ vời ra trong trí tưởng tượng của ḿnh. Y hệt cái cảm giác ban đầu ở quê nhà xưa vào mùa Đông giá buốt 1945, tôi đứng co ro ở cuối nhà thờ hát bài "Đêm Đông lạnh lẽo, Chúa sinh ra đời." Nói là nói thế thôi. Thật t́nh là trong 3 năm (1958-1960), khi trọ học ở nhờ Tiểu Chủng viện Phanxicô Xavie Bùi Chu, tôi đă thấy tận mắt con người ấy vào ra, đi lại, tập tành ca hát. Tôi c̣n nhớ khá rơ mấy lần nữa ở nhà cơm Tiểu Chủng viện, tôi thấy "ông Hải Linh" chỉ huy "ca đoàn Hồn Nước" hát lên một số bài do chính ông viết : Ḥ Non Nước, Chinh Phụ ngâm, Cung đàn bạc mệnh, Đà Lạt Trăng mờ và Ḷng Mẹ . Qua đó, tôi lại biết thêm về quá khứ và hiện tại, như văn học dân gian, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, thi hào Nguyễn Du, nhà thơ khổ hạnh Hàn Mặc Tử và nhạc sĩ Y Vân. Khung cảnh đời tu lúc ấy chỉ hé mở cho tôi thấy có vậy về một tài năng. Rồi thời gian, chiến tranh và cơm áo đời thường xô đẩy tôi ra khỏi, mịt mù tăm tối. Bẳng đi cả chục, hai chục năm ǵ đó. T́nh cờ tôi nhận được tấm giấy mời, đâu của anh em ca đoàn Hồn Nước tổ chức lễ cầu hồn cho nhạc sĩ - ca trưởng Hải Linh ở nhà thờ giáo xứ Xây Dựng (Tân B́nh). Tôi bàng hoàng, xúc động. Cả ván lễ, tôi chia trí những đẩu đâu. Bao nhiêu h́nh ảnh, tiếng vọng thuở nào chợt về. Từ những kỷ niệm tuổi thơ c̣n ngô nghê, mở miệng hát "Mẹ ơi, đoái thương xem nước Việt Nam", "Giáo dân bao xiết mừng", "Ngày nay con đến hát khen mừng mẹ chốn Thiên Đàng, dâng ngành Mân Côi" cho đến những bản hợp xướng để đời như "Đây phút thiêng liêng đă khởi đầu... Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt" và "Ma-ri-a, linh hồn tôi ớn lạnh" v.v. Sau cái buổi tối hư hư thực thực như mơ ấy, tôi về nhà lần lượt được đọc khá nhiều sách, báo, bài viết về Hải Linh, của nhạc sĩ Phạm Duy, của cha Kim Định, của giáo sư Guy de Léoncourt, Viện trưởng âm nhạc viện César Frank, nơi Hải Linh tŕnh luận án mang tên "Màu sắc nhạc Việt trong b́nh ca - La couleur Vietnamienne dans le chant Grégorien" v.v. Phúc đức cho tôi, chẳng hiểu tại sao mà Đức cha Phao-lô Nguyễn Văn Ḥa và cha Kim Long - những cây đại thụ về Thánh ca VN - lại mở cửa cho tôi vào Ban Thánh nhạc (BTN) VN ? Và cũng không biết ḿnh có t́nh duyên nặng nợ ǵ đă khiến cha Đỗ Xuân Quế, cha Xuân Thảo, cha Nguyễn Hữu Triết - những thành viên cốt cán của BTN giáo phận TpHCM - "rửa tội và ban phép" cho tôi chia sẻ một phần việc nhỏ trong nhà Chúa ? Thế là từ đấy, trong mái nhà yên ả rợp đầy bóng mát của Giáo hội, của giáo phận, "Kẻ - ngoại - đạo" về âm nhạc là tôi - qua tiếp xúc thân quen với nhiều thế hệ linh mục, nhạc sĩ Công giáo, qua nhiều lần vâng lời bề trên đứng ra tổ chức, điều khiển chương tŕnh Hợp xướng và Hội thảo chuyên đề (1996-1997) - đâm ra mê mẩn cái công việc "phác thảo những chân dung Thánh nhạc Thánh ca VN". Dĩ nhiên, ở chặng đường khai phá từ 1945, phải có Hải Linh. Viết về người thật việc thật, không thể phóng đại và tưởng tượng, ngẫu hứng được. Cho nên, bằng dă ngoại thực tế, bằng nghe ngóng những chuyện kể từ những người thân quen, mày ṃ lục lọi các tủ sách đă cổ xưa trong tu hội, nhà ḍng, nhà thờ, tôi đă từng bước khám phá ra sự kỳ diệu của Chúa tác động trên tài hoa của những tên tuổi như Hùng Lân, Thiên Phụng, Hoài Đức, Tâm Bảo, Nguyễn Khắc Xuyên, Duy Tân, Hoàng Phúc v.v. trong nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh. Tôi cũng có đủ chất liệu để viết về nhạc đoàn Sao Mai với Hải Linh, Ngô Duy Linh (Thăng Ca), Vơ Thanh (Vũ Đ́nh Trác), Hồ Khanh (Trần Thái Hiệp) hoặc những Hoàng Kim, Phương Linh, Vinh Hạnh, Huyền Linh, Viết Chung, Kim Long. Đấy mới là lớp tiền bối. Hằng hà sa số những tên tuổi c̣n đang sung sức về sau này sẽ là một hiện tượng đáng phải dày công nghiên cứu, tiếp cận. Riêng đối với nhạc sĩ - ca trưởng Hải Linh - một khi đă đọc lại những nhận định, những bài viết có uy tín của viện César Frank, Phạm Duy, Kim Định, cha Trưởng BTN giáo phận Tp và của các thế hệ môn sinh (qua tập Tưởng Niệm, 1991 ; Một Thời Ca Trưởng, 1994) - có lẽ tôi viết thêm cũng chỉ bằng thừa. Có điều là cho đến nay, Hải Linh và thế giới âm nhạc ngôn ngữ rất riêng của ông đă thực sự chinh phục được một công chúng đông đảo, một công chúng nhạy cảm về cái linh hồn của nhạc Việt, một công chúng có lựa chọn, thật đồng điệu về cơi mơ ước suốt đời ông "Tôn vinh Thiên Chúa và Tán tụng Quê Hương".
Khi tôi viết lại những ḍng cảm xúc trào dâng này th́ cơn băo mang tên Kiều diễm Linda vừa mới đi qua mấy tỉnh miền Tây Nam bộ. Vết thương nằm sâu ở Cà Mau, Trà Vinh, Kiên Giang, Bến Tre, Sóc Trăng và nỗi đau th́ nằm sâu ở cơi ḷng của người dân cả nước. No-en sắp về. Thế giới sẽ hát vang Jingle Bell, Silent Holy Night. Và hàng triệu người VN đă thuộc ḷng "Đêm Đông lạnh lẽo, Chúa sinh ra đời". Bài thánh ca bất tử đă choàng lên cổ người nhạc sĩ - ca trưởng Hải Linh ṿng nguyệt quế chói lọi hào quang và hương thơm. Hạt muối nào dám kể công với biển. Vậy nay chuẩn bị mùa tưởng niệm thứ 10, (1988 - 1998), xin mượn lời phát biểu của ngài Lm Chủ tịch Hội nghị Thánh nhạc Hoa Kỳ : "Tôi không có một lời nào xứng đáng hơn để ca tụng tài năng nghệ thuật của Ông. Tất cả đều được đặt dưới bàn tay điêu luyện của Ông..." (trích phát biểu 7.1986 tại Hội nghị Thánh nhạc Hoa Kỳ).
Ngoại ô, tháng 11.97 (Trích từ HLMC 25, tr.106-109)
của Lm.
Trưởng ban Thánh nhạc
Kính thưa Quí cha, Quí tu sĩ nam nữ, Quí quyến, Quí thân hữu và môn đệ của Thầy Hải Linh.
Tôi được mời tới đây tham dự lễ giỗ 100 ngày, với tư cách là người được Đức Tổng Giám mục cử ra lo việc thánh nhạc cùng với một số các linh mục và giáo dân khác. Tôi xin thay mặt cho Ủy ban Thánh nhạc Giáo phận Thành phố có đôi lời trong dịp lễ giỗ này.
Trước hết chúng tôi xin bày tỏ ḷng ngưỡng mộ tài nghệ của Thầy, Thầy là người có thực tài và đă đem tài năng đó ra để phụng sự nền thánh nhạc trong suốt đời Thầy, đặc biệt trong ba thập niên 40, 50 và 60 lúc nền thánh nhạc c̣n trong giai đoạn khai sáng. Thầy là một trong những người có công đầu trong giai đoạn khai sáng ấy và đă đào tạo được một số môn đệ sáng tác ca khúc và điều khiển ca đoàn mà phần đông đều có mặt trong buổi lễ hôm nay. Trong số các môn đệ ấy, có những người đă bắt đầu được biết đến và tỏ ra có khả năng nối được nghiệp Thầy. Đây thật là một phần thưởng vẻ vang cho Thầy.
Thứ đến chúng tôi xin cám ơn và ghi nhớ công lao của Thầy. Những lời ca và ḍng nhạc Thầy để lại đă đi vào tâm hồn nhiều người công giáo Việt Nam, tạo ra một thứ âm hưởng khó quên và khơi dậy được những tâm t́nh tôn giáo đơn sơ, nồng nàn, tha thiết.
Cuối cùng chúng tôi xin cầu nguyện cho Thầy. Chúng tôi cầu nguyện cho Thầy như cầu nguyện cho một người trong gia đ́nh, gia đ́nh thánh nhạc. Chúng tôi coi Thầy là một bậc đàn anh đi trước chúng tôi, một người đă từng mang trong ḿnh những băn khoăn, thổn thức, những ước mơ rạo rực về một tiền đồ tươi sáng cho nền Thánh Nhạc tại quê hương chúng ta.
Thầy Hải Linh, Thầy Hải Linh quí mến ơi ! Chúng tôi ngậm ngùi luyến tiếc nhớ thương Thầy. Biết đâu giờ này Thầy đang được cùng các Thần Thánh trên trời không ngừng ca tụng Chúa. Nếu vậy, xin Thầy đừng quên những người đang v́ Thầy mà có mặt ở đây. C̣n nếu như Thầy vẫn chưa được về nơi vĩnh phúc, th́ chúng tôi sẽ tiếp tục cầu nguyện cho Thầy, đặc biệt trong buổi lễ hôm nay. V́ ḷng Thầy tin Đức Giêsu Kitô cũng như v́ công lao vất vả và những đau khổ Thầy phải chịu trong suốt quăng đời phụng sự Thánh Nhạc, xin Chúa mau đưa Thầy về nơi sáng láng và b́nh an.
Lm. An-rê Đỗ Xuân Quế
TÁC GIẢ BÀI THÁNH CA BẤT HỦ: "HANG BÊ-LEM"
Chiều Chúa nhật 6-1-1991, tại nhà thờ Tân Sa Châu, một buổi lễ đồng tế trang trọng với trên 30 Linh Mục và Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh chủ tế, được tổ chức để tưởng nhớ ba năm ngày qua đời của cố nhạc sĩ Phanxicô Hải Linh. Cũng vào buổi chiều cùng ngày, một số nhà thờ khác trong giáo phận cũng dâng lễ cầu nguyện và tưởng niệm cố nhạc sĩ và nhắc nhớ đến công lao to lớn của một nhạc sĩ bậc thầy trong công cuộc h́nh thành và phát triển thánh nhạc Việt Nam vào những thập niên 40, 50, 60… Và suốt một đời hoạt động âm nhạc đă để lại hơn 100 tác phẩm âm nhạc nhằm tôn vinh Thiên Chúa và tán tụng quê hương.
Nếu trước thánh lễ có nghi thức tưởng niệm với một phần tác phẩm của cố nhạc sĩ Hải Linh vả linh mục Xuân Thảo: Trựng Ca Các Tạo Vật được thể hiện bằng hợp xướng và dàn giao hưởng đă làm đông đảo những người tham dự thánh lễ xao xuyến, nhớ thương; th́ kết lễ, tất cả mọi người đều say sưa cùng hát bài thánh ca bất hủ.
Hang Bêlem đă làm tôi vô cùng xúc động. Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời… Nằm trong hang đá, nơi máng lừa Trông hang Bêlem…
Câu hát ấy, giai điệu ấy, bài thánh ca ấy đă có số tuổi lớn hơn tuổi tôi! Khi tôi biết nghe, biết nói, biết đi đến nhà thờ là đă có bài hát ấy. Đó cũng là bài thánh ca đầu tiên mà tôi thuộc ḷng vào mỗi dịp Giáng sinh của một thời ấu thơ. Măi đến bây giờ, tóc đă bắt đầu nhuộm màu sương khói…bài hát ấy là bài thánh ca duy nhất mà tôi c̣n thuộc nằm ḷng. Cái ǵ đă làm cho bài hát rất giản dị, sáng trong ấy tồn măi trong ḷng người? Và ai dám bảo là nó sẽ không tồn tại măi đến đời sau ? Hồi c̣n sinh tiền, cố nhạc sĩ Hải Linh đă có lần kể về sự ra đời của bài hát Hang Bê-lem :
"Đó là bài đầu tiên mà tôi viết vào tháng 11 năm 1945. Lúc ấy tôi được 25 tuổi và đang dạy học ở trường thầy Giảng Bùi Chu. Một hôm, tôi đi ngang qua Ṭa sọan bán nguyệt san Đường Sống ở Nam Định, ông Minh Châu-chủ nhiệm-thấy tôi thường hay hát nên đố tôi làm được một bài để đăng vào báo Đường Sống nhân mùa Giáng Sinh. Tôi nhận lời và hẹn ba ngày sau trở lại. Sau ba ngày tôi đưa bản nhạc Hang Bê-lem tới Ṭa soạn và tập sơ qua cho một số anh chị em trong Ṭa soạn. Khi hát lên, mọi người thấy thích quá nên ông Minh Châu mới thương lượng với tôi thế này : Ông sẽ chi phí cho người cầm bản nhạc lên Hà Nội để t́m Mạnh Quỳnh và thuê Mạnh Quỳnh khắc vào bản gỗ. Sau khi đă in 2000 số báo Đường Sống, ông Minh Châu sẽ cho tôi lại bản gỗ của bản nhạc. Tôi cũng đồng ư như vậy. Tôi c̣n nhớ, lúc đó tôi đă in ra 500 bản với giá 3 hào hay 5 xu ǵ đó. Tôi gởi lên Hà Nội 10 bản. Một số nhà thờ hát và nhiều người thấy hay nhưng không t́m đâu ra bản nhạc. Thật đúng tôi là một anh nhà quê ! Đối với thủ đô Hà Nội mà chỉ có gởi 10 bản nhạc !".
Bài Hang Bê-lem đă ra đời như thế, và đă được chính tác giả điều khiển ca đoàn nhà thờ chính ṭa Phát Diệm hát lần đầu tiên trong thánh lễ Đêm Giáng Sinh 1945. Chính nhờ sự thành công của bài hát này, thầy Phanxicô Hải Linh (tên thật là Trần văn Linh, quê xứ Ứng Luật, Kim Sơn, Ninh B́nh) đă được Giám Mục Phát Diệm gởi đi du học ở Âu Châu vào năm 1950. Học nhạc ở Ư và học sáng tác ở Paris.
Chuyện kể về cố nhạc sĩ Hải Linh không dừng lại ở sáng tác đầu tay : Hang Bê-lem , mà c̣n được nhắc nhở nhiều đến các tác phẩm âm nhạc nổi tiếng sau này về đạo cũng như về đời : Trựng Ca Các Tạo Vật (dùng lời kinh của thánh Phanxicô, sáng tác chung với Xuân Thảo) gồm 10 bài, Trường ca Ave Maria (phổ thơ Hàn Mặc Tử) gồm 10 bài. Và một số bài thánh ca riêng lẻ như Kính mừng Nữ Vương, Tán tụng hồng ân, Ngài Là Thiên Chúa (Te Deum)… và một số bài thánh ca khác đă được hát trong 40 năm qua.
Về phần nhạc đời, cố nhạc sĩ đă để lại trong kho tàng âm nhạc Việt Nam những tác phẩm như : Đại tấu khúc Chinh phụ ngâm (trích thơ Đặng Trần Côn). Tác phẩm này được viết theo nhạc Việt nhưng h́nh thức vẫn theo lối cổ điển phương Tây, chia làm ba hành âm (mouvement) : Từ khi có lệnh chiến chinh " Trống tràng thành lung lay bóng nguyệt…" cho đến khi người chinh phụ tiễn chinh phu lên đường lo việc nước. Cảnh người chinh phụ cô đơn chiếc bóng ở lại nhà săn sọc mẹ già và con thơ " Gà eo óc gáy sương năm trống…" . Phần kết kể lại ngày đoàn viên… Đại tấu chuông ḥa b́nh viết cho dàn đại ḥa tấu và ban hợp xướng cùng với một số nhạc khí cổ truyền ; Nhạc kịch thơ Duyên kỳ ngộ (thơ Hàn Mặc Tử), đây là một thể loại tiểu nhạc kịch (micro-opera), Trường ca cung đàn bạc mệnh (trích thơ của Nguyễn Du trong tác phẩm truyện Kiều), gồm bốn cung chia ra như sau :
- Cung thứ nhất, gồm 10 bài, tả lại tiếng đàn của Thúy Kiều gảy cho Kim Trọng nghe - Cung thứ hai, gồm sáu bài, tả lại tiếng đàn của Thúy Kiều gảy cho Thúc Sinh và Hoạn Thư nghe. - Cung thứ ba là tiếng đàn của Thúy Kiều gảy cho Hồ Tôn Hiến. - Và cung thứ tư là tiếng đàn của Thúy kiều gảy cho Kim Trọng lúc tái hồi.
Thật tiếc, cố nhạc sĩ Hải Linh đă chưa hoàn tất cung đàn bạc mệnh cuối cùng… Riêng các tác phẩm âm nhạc độc lập (không nằm trong bộ hay trường ca nào) cũng rất đáng chú ư như : Đà Lạt trăng mờ, Ra đời (thơ Hàn Mặc Tử ), Nhạc Việt, Hương quê, Ra khơi, T́nh nước non, Cóc quân đả phá thiên đ́nh, Thằng Bờm có cái quạt mo… Về phương diện học thuật, cố nhạc sĩ đă để lại những kinh nghiệm sáng tác, kỹ thuật và phương pháp điều khiển dàn giao hưởng và hợp xướng qua hai cuốn sách mang tên Lối viết thoáng mỏng và lối Tŕnh tấu sống động. Tôi xin thắp một nén hương tưởng nhớ trước di sản tinh thần qúi giá mà suốt đời hoạt động âm nhạc, nhạc sĩ tài hoa đă chắt chiu, dành dụm để một nửa Tôn vinh Thiên Chúa, một nửa kia Tán tụng quê hương . Qua nén hương tưởng niệm này, tôi cầu mong tất cả di sản âm nhạc của cố nhạc sĩ Hải Linh sẽ được giữ ǵn và đến với tất cả mọi người có đạo cũng như không có đạo, những người có tâm hồn thiết tha với niềm tin yêu Thiên Chúa mà cũng yêu mến đất nước, quê hương, dân tộc … thiết tha
Vũ Duy Giang (CG&DT790)
Nhạc Phẩm Bất Hủ "HANG BÊ LEM" Nhạc Sĩ Hải Linh và Nhạc Việt Trần Văn Chí Thành
Chí Thành : Nhạc phẩm " Hang Bê lem " của nhạc sĩ đă được hát hàng ngàn hàng vạn lần ở những nơi có người Việt khi mùa Giáng Sinh đến. Xin Nhạc Sư cho biết đôi ḍng về bài đó.
Hải Linh : Đó là bài đầu tiên mà tôi viết vào tháng 11 năm 1945. Lúc ấy tôi được 25 tuổi và đang dạy học ở trường Thầy Giảng ở Nam Định. Một hôm tôi đi ngang qua ṭa soạn bán nguyệt san Đường Sống ở Nam Định, ông Minh Châu – chủ nhiệm – thấy tôi thường hay hát nên đố tôi làm được một bài để đăng vào báo Đường Sống nhân mùa Giáng Sinh. Tôi nhận lời và hẹn 3 ngày sau trở lại. Sau ba ngày tôi đưa bản nhạc "Hang Bê lem" tới ṭa soạn và tập sơ qua cho một số anh em trong ṭa soạn. Khi hát lên, mọi người thấy thích quá nên ông Minh Châu mới thương lượng với tôi thế này : Ông sẽ chịu chi phí cho một người cầm bản nhạc lên Hà Nội để t́m Mạnh Quỳnh và thuê Mạnh Quỳnh khắc vào bản gỗ ; rồi sau khi đă in vào 2000 số báo Đường Sống th́ ông Minh Châu sẽ cho tôi lại bản gỗ của bản nhạc. Tôi cũng đồng ư như vậy. Tôi c̣n nhớ là lúc ấy tôi đă in ra 500 bản để bán với giá 3 hào hay 3 xu ǵ đó. Tôi gửi lên Hà Nội 10 bản. Một số nhà thờ hát và nhiều người thấy hay nhưng không t́m đâu ra bản nhạc. Thật tôi là một anh nhà quê v́ đối với thủ đô Hà Nội mà chỉ gửi có 10 bản nhạc ! Một điều rất đặc biệt là Cha Kim Định đă mua một bản danh dự với giá 100 đồng ! Tôi cũng gửi biếu Đức Cha Phạm Ngọc Chi – lúc ấy c̣n là Linh mục và đang dạy ở trường Lư Đoán Phát Diệm – một bản. Sau khi bài đầu tiên được hưởng ứng nồng nhiệt, tôi rất lên tinh thần và tôi cứ thong thả viết cho đến năm 1946 tôi đă xuất bản một quyển Ca Vịnh gồm nhiều bài về Đức Mẹ, trong đó có những bài rất phổ biến như : "Mẹ ơi ! Đoái thương xem nước Việt Nam" "Giáo dân bao xiết mừng" "Ngày nay con đến hát khen..." (dâng Hoa )
Chí Thành : Lối viết của Nhạc Sư rất nhẹ nhàng thanh thoát, giản dị và dễ phổ biến. Xin Nhạc Sư cho biết đă học nhạc ở đâu ?
Hải Linh : Lúc ấy chưa có ai dạy tôi về âm nhạc cả. Khi tôi lên 13 tuổi th́ được một Linh mục người Tây Ban Nha tên là Rangel (Việt Nam gọi là Cố Lễ) dạy tôi nhiều bài hát đạo. Tôi mượn sách của Cha Rangel về xem tự t́m hiểu : so sánh những ǵ tôi đang hát với những dấu nhạc ghi trong bài... Cứ thế tôi t́m hiểu rồi viết nhạc và thấy mọi người ưa chuộng những bản nhạc của tôi. Cho đến năm 1950 khi Cha Phạm Ngọc Chi thụ phong Giám Mục coi sóc địa phận Bùi Chu, Ngài đă nhớ đến bài hát của tôi tặng ngài trước đây nên ngài đă gửi tôi sang học tại Âu Châu. Tôi học khoảng 7 tháng tại Pontifical de Rome (Ư), rồi sau đó sang Ba Lê (Pháp), học ở trường Cesar Franck là một trường chuyên dạy về sáng tác. Tôi học từ năm 1950 đến năm 1956 th́ về Sàig̣n. Luận án của tôi là "La couleur Vietnamienne dans le Chant Grégorien" (Màu sắc Nhạc Việt trong B́nh ca). Trong thời gian học ở Ba Lê, tôi ở cùng một nhà với Cha Kim Định. Cha Kim Định đă giúp đỡ tôi rất nhiều, đă xây dựng ra tôi. Cũng trong thời gian ấy, Cha Kim Định th́ tranh luận với các tư tưởng gia Tây phương về Triết học, c̣n tôi th́ tranh luận với các nhạc sĩ Tây phương về âm nhạc... nên cả hai chúng tôi đă thấm nhuần những điều sở học.
Chí Thành :Xin Nhạc sư cho biết về những tác phẩm mà Nhạc sư đă sáng tác cho đến nay.
Hải Linh : Tôi phải thú nhận rằng tôi không có sáng tác ǵ cả v́ chỉ có một Đấng Tạo Hóa mới thực sự sáng tác mà thôi. C̣n tôi cũng như bao nhiêu người khác th́ không dám nói là ḿnh sáng tác. Tôi chỉ có "sàng tạc" được một đôi bài. Sàng là sàng qua lọc lại ; tạc là dựa vào một mô thức đa có sẵn để chế biến... như người tạc tượng vậy. Viết nhạc cũng cực như lao động chân tay vậy v́ phải cưu mang, phải tính toán, rồi c̣n phải biết lư tưởng hóa những cảm nghĩ, t́nh cảm v.v... Mỗi bài phải có một sức sống riêng. Tất cả những bài tôi viết nằm trong hai chủ đề là : 1 – Tôn Vinh Thiên Chúa 2 – Tán Tụng Quê Hương Việt Nam. Tôi phải cảm tạ Thiên Chúa suốt ngày, suốt đời tôi, v́ Ngài đă cho tôi biết được một thứ ngôn ngữ tế vi và phổ quát của nhân loại. Tôi cũng phải luôn luôn tán tụng Quê Hương v́ đă dưỡng dục tôi. Về loại thứ nhất, tôi viết những bài chia làm 3 loại sau đây : a/ Trường ca các Tạo vật (dùng lời kinh của Thánh Phanxicô). Tập này có 10 bài và đă hoàn tất được 8 bài. Trong số 10 bài này có những bài như "Ông Anh Mặt Trời" , Trăng Sao, Tinh Tú, Nước, Lửa... tất cả đều cất tiếng ca tụng Thiên Chúa. Ngoài ra có "Khúc Ca Mặt Trời" cũng là 1 bài được nhiều người ưa thích. b/ Giáo trường ca Ave Maria (phổ nhạc bài thơ "Thánh Nữ Đồng Trinh Maria" của Hàn Mặc Tử). Trường ca này gồm 10 bài trong đó có ba bài mà nhiều người đă hát, đă nghe "Như sóng lộc triều nguyên ơn phước cả", bài "Mẹ là Đấng tinh tuyền thanh vẹn" và bài "Tấu lạy Bà". Trường ca này dài 26 trang. c/ Một số bài độc lập (không nằm trong bộ hay trường ca nào). Kính Mừng Nữ Vương (viết cách đây 28 năm dịp Đại Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc tại Saigon năm 1958) Tán tụng hồng ân (thơ của Vũ Đ́nh Trác). Tạ ơn Thiên Chúa (tức kinh "Te Deum"). Và nhiều bài khác nữa đă được hát trong 40 năm qua . Về loại thứ hai có các bài sau đây : a/ Đại tấu Chinh Phụ Ngâm (trích thơ tác phẩm văn chương Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn). Bài này vẫn viết theo nhạc Việt nhưng h́nh thức viết th́ theo lối Tây phương chia làm 3 hành âm (movement) : Từ khi có lệnh chiến chinh "Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt..." cho đến khi người Chinh Phụ tiễn chân người Chinh Phu lên đường tại bến Hàm Dương " chốn Hàm Dương chàng c̣n ngoảnh lại..." rồi cảnh người Chinh Phụ cô đơn chiếc bóng ở lại nhà săn sóc mẹ già và con thơ "Gà eo óc gáy sương năm trống...". Phần kết kể lại ngày đoàn viên khi người Chinh Phu trở về "Mở khăn lệ chàng trông từng tấm. Đọc thơ sầu chàng thấm từng câu. Câu vui đổi lấy câu sầu..." b/ Đại tấu Chuông Ḥa B́nh . Bài này viết cho giàn nhạc Đại ḥa tấu và Ban Hợp ca cùng với một số nhạc khí cổ truyền Việt Nam. Bài này tôi viết để riêng tặng tổ chức An Việt của Cha Kim Định. c/ Nhạc Kịch Thơ Duyên Kỳ Ngộ (thơ của Hàn Mạc Tử) gồm nhiều đoạn. Đây là một tiểu nhạc kịch (micro opera) đă được hoàn tất trong thời gian tôi c̣n học tại Ba Lê - Pháp, khoảng năm 1955. d/ Trường ca Cung Đàn Bạc Mệnh (trích thơ của Nguyễn Du trong tác phẩm văn chương trứ danh "Truyện Kiều"). Trường ca này có 4 cung chia ra như sau :
e/ Một số bài độc lập như : -- Đà Lạt Trăng Mờ (thơ Hàn Măc Tử). Đă tŕnh tấu tại Thảo Cầm Viên Sàig̣n cùng với giàn nhạc Đại ḥa tấu từ New York sang (khoảng năm 1958) -- Nhạc Việt -- Hương Quê -- Cóc quân đả phá Thiên đ́nh -- Thằng Bờm có cái quạt mo -- Ra khơi -- Ḷng mẹ (lời của Y Vân) -- Ra đời (thơ Hàn Mạc Tử) -- T́nh nước non.
Nói chung ra th́ một bài nhạc phải tồn tại từ 30 đến 40 năm mới thực sự có giá trị và trường tồn.
Chí Thành : Hầu hết những bài của Nhạc sư đều viết theo thể nhạc Việt. Xin Nhạc sư cho biết đă học nhạc Việt ở đâu ?
Hải Linh : Về vốn liếng nhạc Việt, tôi đă thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau : tiên khởi là do mẹ tôi dạy tôi khi tôi c̣n nhỏ v́ hồi đó mẹ tôi là một "bà quản" thuộc rất nhiều bài hát cổ xưa. Mẹ tôi chuyên dạy cho các cô trong xứ đạo. Các cô học hát được chia làm hai loại khác nhau : những cô hát và tiến hoa th́ được gọi là "con hoa" ; Những cô chỉ hát mà không tiến hoa gọi là "học tṛ". Tôi sinh trưởng ở miền Bắc nên đă biết tất cả các hơi bắc từ văn, vè, than, trống quân, c̣ lả, quan họ, chèo v.v... chẳng hạn những tiếng "ḥ dô ta, ơ dô ta" là tiếng ḥ trên sông Mă ở Thanh Hóa... Về loại "cổ giáo nhạc Việt" (chant paraliturgique) tôi cũng có đầy đủ. Ngoài ra tôi cũng có thêm hai vốn đặc biệt khác nữa là Hy Lạp và B́nh Ca (Chant Grégorien) của Tây phương, do đó, hiểu thấu đáo nhạc Việt có những nét tinh túy độc đáo khác hẳn với nhạc Trung Hoa, Nhật Bản hay Chiêm Thành...
Chí Thành : Nhạc sư có sáng tác tân nhạc không ?
Hải Linh : Tôi không viết bản nào cả.
Chí Thành : Nhận xét của Nhạc sư về loại nhạc bây giờ ?
Hải Linh : Sau thế chiến, các đại tư tưởng gia Tây phương đă loan báo về t́nh trạng khủng hoảng trầm trọng của thế giới Tây phương : lo âu, xao xuyến, bất an v.v... Toynbee nói về "sự trống rỗng tinh thần của Châu Âu (nihilisme occidental), Berdiaeff cho rằng "Tây phương đang lo âu đến vực thẳm v́ mọi giá trị đang sụp đổ." Đại loại là như vậy trong khi nhạc Tây phương đă đến chân tường nên bây giờ hầu hết những người viết nhạc chỉ cần làm sao cho khác thường, giật gân, kinh khủng, quái gở… từ cách viết đến cách hát : la hét, nằm lăn quay ra đất v.v...
Chí Thành : Hiện trạng trên là đối với loại nhạc bây giờ, chứ trong quá khứ Tây phương đă sản xuất được những công tŕnh rất đồ sộ hùng vĩ của một Beethoven, một Mozart, một Palestrina, một Haendel...
Hải Linh : Âm nhạc Tây phương dựa trên thất âm tức là âm giai trưởng, âm giai thứ và thịnh hành từ thế kỷ XVI. Hệ thống thất âm thích hợp với ngôn ngữ Tây phương, diễn tả tâm t́nh của người Tây phương. Trong suốt 4 thế kỷ, nguồn cảm hứng đă được khai thác hết, đă được chắt lọc rất kỹ, đă hết nhựa sống. Các nhạc sĩ tài danh đă khai thác từ đơn điệu đến ḥa âm. Nói tóm lại là nhạc Tây phương đă đến góc tường rồi và từ đầu thế kỷ XX người ta đă đổ đi t́m nguồn cảm hứng mới..
Chí Thành : Xin Nhạc sư cho biết những độc đáo của nhạc Việt.
Hải Linh : Nhạc Việt dùng hệ thống ngũ cung. Nhạc Trung Hoa từ nguyên thủy dựa trên hệ thống ngũ cung là : Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ. Khi người Việt bắt đầu sang nghiên cứu hệ thống ngũ cung của người Trung Hoa vào thế kỷ XV là lúc âm nhạc Trung Hoa chịu ảnh hưởng trong mấy thế kỷ do người Mông Cổ thống trị và Ngũ cung lúc bấy giờ là : Hồ, Xự, Xang, Xế, Cống (thay v́ Cung, Thương, Giốc, Chủy,Vũ).
Chí Thành : Xin Nhạc sư cho biết về sử dụng ḥa âm (harmony) trong nhạc Việt.
Hải Linh : Nhạc Tây phương sở dĩ cần dùng hóa âm hoặc có thể dùng ḥa âm là v́ những cung bậc của họ nhất định, chắc chắn. Mỗi cung bậc cần bao nhiêu âm ba (vibration) là phải đúng như vậy chứ không thể thiếu được. Khi tôi gơ cái âm thoa (diapason) th́ bắt buộc có đủ 440 âm ba th́ mới phát âm ra cung La. Chính v́ những cung bậc nhất định, cung bậc chết như vậy nên mới cần ḥa âm cho thêm màu sắc. Nói một cách khác, v́ cung bậc của nhạc Tây phương đă được ấn định rơ ràng, cung nào ra cung đó nên ḥa âm đă được dùng để chế tạo nên những khối âm thanh phức tạp... Trái lại, cung bậc trong nhạc Việt không nhất định, không có cung nào thật cả. Nói theo danh từ chuyên môn là cung bậc của nhạc Việt không nhất định số âm ba. Mỗi người khai thác cung bậc nặng nhẹ khác nhau, tất cả đều di động. chẳng hạn như cây đàn tranh, quan trọng nhất là tay trái của người tấu ; khi th́ mổ xuống, khi th́ nhấn, khi th́ rung làm cho âm thanh đầy màu sắc. Thử tưởng tượng là một cây đàn huyền diệu như cây đàn Kinh (độc huyền cầm) nếu người tấu không sử dụng tay trái th́ tức là đánh nốt chứ không phải tấu nhạc uyển chuyển. Nhạc Việt không có cái đẹp sáng lạn hùng vĩ như nhạc Tây phương nhưng ngược lại rất dịu dàng thanh thoát hợp với tâm t́nh và lư tưởng của người Á Đông. V́ cung bậc của nhạc Việt không ở chỗ nào cả nên nếu dùng ḥa âm kiểu Tây phương sẽ bị phá ngay. Học giả Trần Văn Khê nói rằng nếu dùng nhạc khí Tây phương mà tấu nhạc Việt th́ nghe nó "thô tục" (grossièrement).
Chí Thành : Nhạc sư có soạn sách không ?
Hải Linh : Tôi có viết hai quyển : Một quyển là "Lối viết thoáng mỏng", tŕnh bày về lối sáng tác nói lên nét đẹp độc đáo của Á Đông nhất là của Việt Nam. Tôi tŕnh bày về lối viết nhạc Việt không cầu kỳ rườm rà hay đồ sộ như nhạc Tây phương nhưng đơn sơ nhẹ nhàng. Thế giới ngày nay đang đi t́m một cái ǵ nhẹ nhàng thanh thoát đáp ứng với nguyện vọng thâm sâu của tâm hồn sau những lúc cảm thấy bất an. Quyển thứ hai tôi viết về lối "Tŕnh tấu sống động" nhằm tŕnh bày làm thế nào để điều khiển một ban hợp ca để tấu lên được tất cả những tinh túy của một bản nhạc.
Chí Thành
: Nhiều người đă được biết hoặc nghe nói Nhạc sư có một lối đánh nhịp
(điều khiển ban hợp ca) đặc biệt. Xin Nhạc sư cho biết sơ qua.
Hải Linh : Việc khởi tấu rất quan trọng cũng y như việc phóng một phi thuyền vào không gian. Cho được phóng một phi thuyền cần phải có những chuẩn bị đầy đủ và chính xác... Điều khiển một ban hợp ca để tấu lên một bản nhạc cũng vậy. Tôi đă áp dụng trong mấy chục năm nay và những ca viên lănh hội được từng cử chỉ và được nhiều người công nhận. Tây phương cũng có một số người chuyên về điều khiển hợp ca (chef de Choeur) nổi tiếng như Pierre Koelin (Thụy Sĩ), Robert Wilson (ở Ohio, Hoa Kỳ )...
Chí Thành : Chúng tôi trộm nghĩ rằng Nhạc sư c̣n rất nhiều việc phải làm mà thời gian rất cấp bách... Vậy việc huấn luyện ca trưởng, Nhạc sư có thể thâu vào băng video để họ có thể tự luyện hàm thụ với nhau rồi lâu lâu th́ Nhạc sư đi kiểm điểm và điều chỉnh, sửa chữa v.v...
Hải Linh : Lối điều khiển của tôi rất khác nên rất khó mà có thể hấp thụ mà không có người chỉ dẫn trực tiếp. Mỗi cái cất tay của tôi là một thế vơ (chiêu thức) và tôi đă sáng chế ra 300 miếng vơ... Chính v́ vậy mà tôi cần phải đích thân bẻ tay, nắn thân người v.v... cho học viên mới được. Cũng tỉ như khi học vơ, cần phải học khẩu quyết th́ mới phát huy được nội lực chứ không phải chỉ xem qua mà có thể làm được. Tuy nhiên, ư kiến làm băng video cũng rất hay đối với những phần nào có thể tŕnh bày được.
Chí Thành : Dường như thế giới bên ngoài biết rất ít về việc làm của Nhạc sư. Nhạc sư có chương tŕnh xuất bản sách và nhạc thâu băng những tác phẩm của Nhạc sư không ?
Hải Linh : Chữ "thế giới bên ngoài" anh muốn ám chỉ người ngoại quốc ?
Chí Thành : Dạ, thưa cả người ngoại quốc và cả Cộng đồng Việt Nam nói chung. Nhạc sư Hải Linh lấy cái điếu cầy ra, vừa châm thuốc vừa tâm sự : Tôi nghiện thuốc lào từ khi lên 10 tuổi ! Cái nghiện thuốc lào này nó khó bỏ lắm chứ không như thuốc lá . Sau khi rít một hơi dài nghe "róc róc", Nhạc sư Hải Linh trầm giọng xuống v́ ưu tư .
Hải Linh : Năm nay, tôi 67 tuổi, tuổi Thân, cùng tuổi với Đức Giáo Hoàng. Tuổi Thân bạc bẽo lắm : tôi chỉ c̣n nấp bóng Đức Giáo Hoàng để sống được qua ngày nào hay ngày đó thôi. Việc anh hỏi thiết tưởng đó là việc rất cần phải làm và trở nên cấp cách... Vấn đề tập các bản nhạc mới là nan giải v́ thời giờ bên này rất là eo hẹp và mỗi người mỗi nơi... Tôi nghĩ rằng chỉ có cách là mỗi địa phương lấy chừng 5 người, trao bản với những chỉ dẫn cần thiết để họ tự luyện lấy với nhau. Sau một thời gian th́ tập hợp tất cả lại, tổng dượt rồi dành ra chừng một tháng trời chỉ có ăn rồi thâu băng. Tập một trường ca Cung Đàn Bạc Mệnh cũng phải mất một năm. Nói tóm lại, về vấn đề xuất bản cũng như tập hát và thâu băng, tôi rất cần những nhà "mạnh thường quân". Đây là vấn đề chung của Cộng đồng Việt Nam hải ngoại... Đối với những bạn yêu nghệ thuật, thời giờ không bó buộc nhiều... có thể hy sinh để Tôn Vinh Thiên Chúa, để Tán Tụng Quê Hương. Tôi c̣n nhớ Anh Quốc là một cường quốc trên thế giới, thế mà trên lănh vực ngoại giao, họ cũng đă chi rất nhiều tiền cho dàn nhạc, ban hợp ca, đoàn vũ v.v... đi lưu diễn khắp thế giới.
Chí Thành : Nhạc sư có nói rằng bài đại tấu Chuông Ḥa B́nh là để riêng tặng tổ chức An Việt của Cha Kim Định. Xin Nhạc sư cho biết một chút về bản này.
Hải Linh : Bài này tôi viết cho dàn nhạc đại ḥa tấu (Symphony orchestra) cho khoảng 50 nhạc công Tây phương, 50 ca viên và một số nhạc khí cổ truyền Việt Nam. Phần hợp ca là một khúc ở đoạn cuối bài. Năm 1984 khi Cha Kim Định đi dự Hội Triết học Trung Hoa tại Đài Loan, đă ao ước bài này được tŕnh tấu tại Đại Hội trước các Tư Tưởng Gia lỗi lạc nhất của hoàn cầu v́ bài này là một lời rao giảng về chữ Ḥa . Ba chữ "Chí Trung Ḥa" ( When the centering is utmos, the Harmony is the greatest) trích ở sách Trung Dung đă tóm thâu tinh hoa của Nho Giáo tuyệt vời, nói lên được nét đặc trưng của Nho cách thấu triệt và chúng ta cần phải nhận thức được mọi chiều kích của ba chữ đó để hiện thực vào thân tâm và diễn đạt ra cho mọi người cùng hiểu. Con người đứng gơ nhịp để Ḥa Trời với Đất... Nho giáo không chú ư lời hay ư đẹp cho bằng chú ư tới đời sống đẹp tạo nên do chữ H̉A Trong khi các nhạc khí đang tấu th́ một người sẽ nói lên tất cả lư tưởng và khát vọng của con người...
Chí Thành : Mùa hè 1988 là dịp Phong Hiển Thánh cho 177 Chân Phước Tử Đạo Việt Nam tại Roma. Nhạc sư chắc hẳn đă có chương tŕnh Thánh Ca cho dịp lễ quan trọng nhất cho Dân Tộc Việt Nam này ?
Hải Linh : Tôi dự định sẽ có 4 buổi tŕnh tấu vào dịp đó : Một buổi đầu tiên tại Công Tr |