KIẾN THỨC CHUYÊN MÔN
CỦA CA TRƯỞNG
|
1. Vai trò và nhiệm vụ của ca trưởng 2. Phần sửa soạn chung cho ca trưởng |
PHẦN
SỬA SOẠN CHUNG CHO
CA TRƯỞNG
3. Các khóa nhạc dùng để viết hợp ca.
4. Các loại nhịp thường dùng trong
hợp ca.
5. Các loại thanh cữ. 6.Đôi
điểm cần thiết để tập dượt và trình tấu.
7. Sửa soạn kết bài. 8. Kết
bài.
9. Câu
Hỏi
1.
Bốn
bát độ hợp ca trong bảng tổng hợp âm thanh
1.1.
Bảng
tổng hợp âm thanh
a.
Hàng âm hoàn chỉnh của hệ thống âm nhạc gồm 88
âm có cao độ khác nhau được lặp lại một cách chu
kỳ theo những quãng tám, nó gồm có bảy
quãng tám trọn vẹn, hai
quãng tám thiếu ở hai đầu của hàng âm. Âm thanh
của bậc Đô là âm đầu của mỗi quãng tám. Nếu tính
từ âm thấp nhất đến âm cao của hàng âm (trên bàn phím
đàn Piano) các quãng tám nói trên lần lượt có các tên
gọi như sau : quãng 8 cực trầm, quãng 8 trầm, quãng 8
lớn, quãng 8 nhỏ, quãng 8 thứ nhất, quãng 8 thứ hai, quãng
8 thứ ba, quãng 8 thứ tư, quãng 8 thứ năm.
b.
Sơ đồ bảng tổng hợp âm thanh dưới dạng bàn phím
Piano :
|
C2 |
C1 |
C |
c |
c1 |
c2 |
c3 |
c4 |
c5 |
|
quãng
8
cực
trầm |
quãng
8
trầm |
quãng
8
lớn |
quãng
8
nhỏ |
quãng
8
thứ
1 |
quãng
8
thứ
2 |
quãng
8
thứ
3 |
quãng
8
thứ
4 |
quãng
8
thứ
5 |
|
3
âm
A2B2H2 |
12
âm
C1----H1 |
12
âm
C------H |
12
âm
c-------h |
12
âm
c1-----h1 |
12
âm
c2------h2 |
12
âm
c3----h3 |
12
âm
c4-----h4 |
1
âm
c5 |
1.2.
Bốn
bát độ dùng trong hợp ca[6]
:

2.1.
Tiếng người hát được
chia làm 2 loại chính :
a.
tiếng đàn bà - trẻ em
b.
tiếng đàn ông
Mỗi
loại tiếng nói trên lại được chia ra ba loại với ba tính
chất khác nhau :
+
Giọng cao : sáng sủa, bay bổng, nhẹ nhàng.
+
Giọng trung : nồng hậu, đầy đặn, ấm áp.
+
Giọng trầm : hùng tráng, rộng lớn, sâu lắng.
-
Nữ có những giọng :
a.
Nữ cao (Soprano)
b.
Nữ trung (Mezzo Soprano)
c.
Nữ trầm (Alto)
-Nam
có những giọng :
a.
Nam cao (Ténor)
b.
Nam trung (Baryton)
c.
Nam trầm (Basso)
Đó
là sáu giọng hát phân chia khái quát trên lý thuyết, trong
thực tế, do sự cấu tạo bẩm sinh có nhiều điều kiện
cơ thể khác nhau nên nảy sinh nhiều cỡ giọng và âm
sắc khác nhau, không phải chỉ có sáu loại giọng đã nói
ở trên (đó là cái khó cho người ca trưởng khi chọn và
phân định giọng hát).
2.2.
Bốn giọng chính của Ban
hợp ca dị giọng :
a.
Nữ cao (Soprano)
b.
Nữ trầm (Alto)
c.
Nam cao (Ténor)
d.
Nam trầm (Basso)
Cũng
nên biết thêm là loại Hợp ca đồng giọng đàn ông có
trước loại Hợp ca dị giọng ; vì thế một số bài
hợp ca đã được viết cho 4 bè đàn ông như sau :

Chữ
Altus có nghĩa là cao,
dùng để gọi giọng cao nhất của giọng đàn ông, nhiều
khi dòng nhạc lên cao họ phải hát giọng giả hay giọng
óc (falsetto).
Ngày
nay chữ Alto dùng để gọi giọng trầm của giọng nữ (cũng
còn gọi là Contralto).
Hợp
ca đồng giọng đàn ông ngày nay vẫn giữ 4 giọng, nhưng
viết cho 2 giọng Ténors và 2 giọng Bassi.
3.
Các
khoá dùng để viết nhạc hợp ca
Khoá
là tên gọi của ký hiệu dùng để xác định một độ
cao nhất định cho các âm thanh nằm trên dòng và khe.
Khoá
đặt ở đầu khuông nhạc, trên một trong những dòng kẻ
chính sao cho dòng đó chạy qua trung tâm nó.
3.1.
Ngày xưa : Người ta dùng khóa Đô dòng 1 cho bè Soprano,
khóa Đô dòng 3 cho bè Alto, khóa Đô dòng 4 cho bè Tenor và
khóa Fa dòng 4 cho bè Basso[7].

3.2.
Ngày nay :
+
Riêng giọng Ténor có thể
dùng:
2)
Khoá Xon thêm số 8 ở dưới : Khoá Xon hạ bát độ.
3)
Khoá Fa
?
chung với giọng Basso khi nét nhạc không lên cao
quá
4.
Các
loại nhịp thường dùng trong nhạc hợp ca
4.1.
Nhịp chia hai (Đơn)
a.
Định nghĩa : nhịp chia hai là nhịp mà mỗi phách chia làm
hai phần bằng nhau hay nói cách khác mỗi phách có giá
trị bằng một dấu nhạc đơn (không có chấm).
4
4 4
2 2
2 8
8
Nhịp
2/2 còn gọi là Alla breve và còn có ký hiệu là
C (C barré)
4.2.
Nhịp chia ba (kép) :
a.
Định nghĩa : nhịp chia ba là nhịp mà mỗi phách chia làm
ba phần bằng nhau hoặc là mỗi phách có giá trị bằng
một dấu nhạc có dấu chấm.
b.
Các loại nhịp chia ba thường dùng:
6 9
12 6
9
8
8 8
4 4
5.
Các loại thanh cữ (diapason)
5.1.
Căn cứ vào số chấn động kép, E.Bozza chia ra làm ba
loại thanh cữ :
a.
Loại cũ
: 445 chấn động kép
b.
Loại bình thường : 435 chấn động kép
c.
Loại mới
: 440 chấn động kép

Loại
thanh cữ mới này hiện nay được thông dụng và gọi là
thanh cữ La 3 (vì nằm ở bát độ thứ ba trong bốn bát độ
hợp ca).

5.2.
Ngoài ra cũng còn một số thanh cữ khác cũng được dùng
riêng biệt cho các nước sau :
+
Đức : 435 chấn
động kép
+
Hoa Kỳ :
440 chấn động kép
+
Thuỵ Điển : 440 - 443 chấn động kép
+
Anh : 451 (cũ) -
439 (mới).
5.3.
Cách sử dụng thanh cữ : tập gõ và nghe thanh cữ để
nhận ra cung bậc khởi đầu cho mau lẹ và chính xác. Đôi
khi còn phải chuyển dịch xuống thấp hay lên cao cho vừa
tiếng ca viên.
6.
Những điểm cần thiết để tập dượt và trình tấu
6.1.
Chuyển giọng cho ca đoàn
khi tập dượt :
a.
Ca trưởng miệng đọc tên dấu nhạc hay chữ bắt đầu bài
hát
b.
Tay chỉ từng bè (thường dùng tay phải)
c.
Mắt kiểm soát xem ca viên đã nghe và nhận rõ âm thanh chưa
?
6.2.
Trước khi khởi tấu cần có giây
phút im lặng tập trung để ca viên sửa soạn tinh
thần, trong khi tay ca trưởng ở vị
trí sẵn sàng để phác hoạ phách
chuẩn bị, phách chuẩn bị này vừa cho biết nhịp
độ (tempo), cường độ
và sắc thái khởi đầu,
vừa chuẩn bị cho ca viên mở
khẩu hình lấy hơi đúng lúc để khởi tấu cho đồng
đều và có năng lực.
6.3.
Khi trình tấu, nếu bản Hợp ca có phần nhạc mở đầu
thì giây phút im lặng phải chuẩn bị trước khi ca trưởng
ra hiệu cho người dạo đàn bắt đầu. Trường hợp này
tất cả ca viên phải chú ý theo dõi câu nhạc mở đầu.
Tay ca trưởng sẽ đưa lên vị trí sẵn sàng trước khi
phần nhạc mở đầu kết thúc, và cho ca đoàn khởi tấu
đúng lúc.
7.
Sửa soạn kết bài
7.1.
Phần kết bài chia ra làm hai loại :
a.
Loại đi trúng nhịp, như bài “Con sẽ hân hoan”
b.
Loại đi chậm dần lại, như bài “Ôi thần linh Chúa”
Để
cho ca đoàn bắt cho chính xác và nhịp nhàng chữ cuối
những bài thuộc loại nhịp chậm dần lại, ngón tay ca trưởng
duỗi ra hoặc chụm lại thận trọng như để đánh
Staccato :
7.2.
Nếu chữ cuối bài viết trên thang âm thứ là hội âm dùng
quãng ba trưởng (tierce picarde) tay phải ca trưởng sẽ nâng
bè nào phụ trách quãng ba trưởng đó :
8.1.
Khi ca đoàn đã bắt đầu chữ cuối bài, thường ca trưởng
ngừng tay lại, lòng bàn tay hướng về ca đoàn như dặn dò
ngân dài như khi có dấu lưu U , rồi sửa soạn kết
bằng tay phải
tuỳ theo vẻ nhạc : p - m hay f.
8.2.
Riêng những bài kết ở vẻ nhạc ff, tay ca trưởng sẽ
mở hay nắm lại và quất mạnh cho xứng hợp với mức độ
mạnh của bài.
8.3.
Một số ít bài kết thình lình và gây cấn như : “Xôn
xao” (Con bướm trắng) hoặc “Lao đao” (Say Noel) tay ca
trưởng sẽ quất ngang dọc, rồi treo lơ lửng trên không
cho thêm gây cấn.
8.4.
Sau cử chỉ kết bài êm, mạnh
hoặc gây cấn, sẽ là một phách im lặng - mục đích đem
người trình tấu và người nghe trở lại thế giới bình
thường, lúc đó người ca trưởng mới hạ hai tay xuống.
8.5.
Riêng các buổi trình tấu ngoài Phụng vụ, cần lưu ý thêm
hai điểm sau :
a.
Ca trưởng xuống khỏi bục điều khiển và cúi chào đáp
lễ khán thính giả, nhất là khi họ vỗ tay tán thưởng.
b.
Trường hợp muốn giới thiệu ca đoàn hoặc ca viên lĩnh
xướng (Solo) với khán thính giả, ca trưởng dùng tay
phải để ra hiệu.
+
Lưu ý : ĐIỂM PHÂN
BIỆT BÀI HỢP CA ĐỒNG GIỌNG VÀ DỊ GIỌNG
Phần
lớn các bài hợp ca hiện nay không ghi rõ là đồng giọng
hay dị giọng, vậy muốn xác định chúng ta phải căn cứ
vào hoà âm :
a)
Nếu thấy bè Ténor cao hơn bè Alto là bài viết cho hợp ca
dị giọng (xem bài VDTC và CT thánh Giu-se).
b)
Ngược lại nếu là đồng giọng thì bè một cao hơn bè
hai và bè hai cao hơn bè ba.
c)
Nếu Alto thấp hơn Basso cũng là bài viết cho hợp ca dị
giọng.
d)
Cũng có bài vừa viết cho hợp ca dị giọng vừa cho hợp
ca đồng giọng.
1.
Cho biết vị trí của bốn bát độ hợp ca trong bảng
tổng hợp âm thanh ?
2.
Tên các giọng hợp ca thông dụng hiện nay và các khoá
nhạc tương ứng ?
3.
Các loại nhịp thường dùng trong nhạc Hợp ca ?
4.
Các loại thanh cữ : loại nào thông dụng ? Cách sử dụng
ra sao ?
5. Khởi tấu gồm những công việc nào ? Ích lợi của khởi tấu ra sao ?
[6]
Đàn Organ đệm cho hợp ca tối thiểu phải có 4 bát độ
trở lên, và phím trầm nhất phải là Đô, không nên
chọn loại bắt đầu bằng Fa.
[7]
Khoá
Ut hay Đô do sự biến hình của chữ C đặt trên dòng kẻ
: 1-2-3-4-5 và được sử dụng như sau :Đô 1 : dùng cho
giọng Soprano; Đô 2 : dùng cho giọng Mezzo Soprano; Đô 3 : dùng
cho giọng Alto và nhạc cụ Alto; Đô 4 : dùng cho giọng Ténor
và các nhạc cụ Basson - Violoncelle (ở âm vực cao)
Trombone – Ténor; Đô 5 : dùng cho giọng Baryton . Ghi
chú:1) Nhạc cụ Alto gồm đàn Viola và kèn Trombone-Altô.
2) Violoncelle và kèn Basson thường dùng khoá Fa, nhưng
ở những âm vực cao thường dùng khoá Đô 4 để bớt các
dòng kẻ phụ. 3) Kèn
Trombone-Ténor thành viên chính của nhóm Trombone trong dàn
nhạc giao hưởng dùng khoá Đô 4, nhưng nếu xuống trầm hơn
người ta dùng thêm cả khoá Fa để tránh bớt dòng kẻ
phụ ở phía dưới khuông nhạc. Cũng có khi người ta dùng
chung một khoá Fa cho cả nhóm trombone trong dàn nhạc. (Có
hai kiểu trombone : Trombone à piston và Trombone à coulisse chia
làm ba loại : Alto - Ténor - Basse, trombone à coulisse hiện
nay thường được dùng trong dàn nhạc vì âm chất hay hơn
và dùng cũng thuận tiện hơn).