KIẾN THỨC CHUYÊN MÔN
CỦA CA TRƯỞNG
|
1. Vai trò và nhiệm vụ của ca trưởng 2. Phần sửa soạn chung cho ca trưởng |
TỔ
CHỨC CA ĐOÀN
1.
Tổ chức chuyên môn
2. Tổ chức hành chánh
3. Tổ chức công việc
4. Câu
Hỏi
1.
Tổ chức chuyên môn
Hoạt
động chuyên môn của một ban Hợp ca, một ca đoàn, là
hoạt động âm nhạc. Trong lãnh vực âm nhạc, người ca trưởng
là người lãnh đạo chuyên môn, điều khiển mọi hoạt động
liên quan đến khâu trình tấu. Vì thế, người ca trưởng
phải biết cách tổ chức ca đoàn về mặt chuyên môn của
mình.
1.1.
Tuyển chọn Ca viên và xếp giọng hợp ca : Người ca trưởng
muốn thành lập ca đoàn, hoặc muốn bổ sung ca viên cho
một ca đoàn có sẵn, đều phải biết cách “kiểm vấn”
người mới muốn gia nhập ca đoàn và xác định loại
giọng để xếp đúng bè hợp ca :
a.
Kiểm vấn về sự nhạy bén đối với cao độ và tiết
tấu bằng cách cho “nhái âm”, tức là mình hát hay ngâm
nga một giai điệu ngắn vừa, với tiết tấu rõ ràng, rồi
người được kiểm vấn lặp lại (nhái lại) càng đúng
cao độ và tiết tấu như mình đã hát càng tốt. Nếu không
nhái được cao độ thì không nên nhận vào ca đoàn. Nếu kém
về tiết tấu thì còn có thể huấn luyện từ từ được,
nhưng cũng không nên nhận nếu không có chất giọng tốt.
b.
Cho hát một bài quen thuộc, qua đó ca trưởng có thể xác
định được loại giọng (xem Thanh nhạc 2) và đánh giá
được chất lượng âm thanh của giọng hát. Nếu giọng hát
tương đối khả quan, trên mức trung bình, thì ca trưởng có
thể cho làm ca viên tuỳ theo nhu cầu nhân sự của ca đoàn
hiện có (hát hợp ca không chuyên không thể đòi hỏi chất
giọng thật đẹp, thật đặc sắc như trong ca hát chuyên môn
được).
1.2.
Xếp chỗ cho ca viên :
a.
Chỗ đứng của toàn ca đoàn với 4 bè hợp ca dị giọng có
thể xếp theo sơ đồ sau :

Giọng cao bên trái
Giọng trầm bên
phải
Giọng nữ trước, giọng nam sau
Nếu
mỗi bè phải tách ra hai bè nhỏ, thì giọng cao hơn đứng
phía bên trái (T1, S1, B1, A1), còn giọng hát trầm hơn đứng
phía bên phải (T2, S2, B2, A2).
b.
Chỗ của từng ca viên trong mỗi bè : nên xếp người hát
vững đứng xen kẽ với người hát không vững, nhất là đứng
ở giao điểm của hai bè khác nhau. Ngoài ra, nếu hoàn cảnh
cho phép, cũng phải lưu ý đến chiều cao của ca viên : Người
cao đứng ngoài, người thấp đứng trong, sắp xếp sao để
khi đứng lên trông cho vừa mắt.
1.3.
Con số ca viên trong từng bè :
a.
Không có con số nhất định
nào cho từng bè, từng ban. Tất cả là tuỳ theo chất lượng
giọng hát của từng ca viên trong từng bè, làm sao khi hát lên
âm lượng chung của ca đoàn được cân bằng.
b.
Do đó ca trưởng cần lưu
ý mấy điểm cơ bản sau :
-
Giọng Nam thường khoẻ hơn giọng Nữ, nên thường Nữ đông
hơn Nam
-
Giọng Nữ cao thường phải đảm nhận giai điệu chính
của bài nhạc, nên thường Nữ cao nhiều hơn Nữ trầm
-
Giọng Nam trầm thường giữ phần nền của hoà âm nên
cần đề cao hơn giọng Nam cao.
c.
Để có một ý niệm
về tương quan giữa con số ca viên trong mỗi bè, ta có thể
tham khảo tác giả Félix Raugel [8]
phân chia các bè trong một ban Hợp ca gồm 50 ca viên như sau
:
10
Nam cao
14 Nam trầm
14
Nữ cao
12 Nữ trầm
Năm
1936, Ban Hợp ca nổi tiếng của Kịch viện thành Vienne (Opéra
de Vienne, Áo quốc) gồm 101 ca viên được phân chia như sau :
24
Nam cao (14 + 10)
23 Nam trầm (12 + 11)
31
Nữ cao (20 + 11)
23 Nữ trầm (10 + 13)
d.
Về mặt tổ chức, cần
chỉ định : một Trưởng
bè và nếu cần một Phó bè, để hỗ trợ cho ca trưởng.
Những người này cần có giọng hát tốt và khả năng âm
nhạc vững chắc, để phụ giúp tập bè khi cần, nhất là
để nâng đỡ, dẫn dắt giọng hát của bè mình, nhắc
nhở nhau trong khi tập dượt cũng như khi trình tấu. Trưởng,
Phó bè kiếm soát chỗ đững ổn định của ca viên trong bè
mình.
1.4.
Ca mục và Bài bản :
Trong sinh hoạt chuyên môn của ca đoàn, khi đã có đầy đủ
ca viên rồi thì ca trưởng phải nghĩ đến các bài hát để
tập cho ca đoàn. Không phải hát bất cứ bài nào, nhưng ca
trưởng phải chọn bài hay
và phù hợp với khả năng ca đoàn cũng như phù hợp
với yêu cầu của Phụng vụ.
a.
Ca mục là danh sách các
bài hát mà ca trưởng phải chọn cho các ngày lễ trong năm
: đặc biệt là các lễ Mùa Vọng, Mùa Chay, Mùa Phục Sinh,
Tết Nguyên Đán, các lễ trọng, lễ kính, các lễ Bổn
mạng, các lễ Thêm sức, Hôn phối, Tạ ơn ... Ca trưởng
phải chuẩn bị xa, lo chọn trước, hoặc nhờ các ca viên
giới thiệu trước cho mình. Sau chu kỳ ba năm là có thể có
một ca mục khá ổn định cho các ngày lễ chính. Sau mỗi
lễ hát, nên lượng định xem bài nào hát được, bài nào
không nên hát nữa. Bài hát được thì đem vào ca mục. Bài
không nên hát, thì lo tìm bài khác để thay thế.
b.
Khi đã có ca mục, thì phải lo đến khâu bài
bản, nghĩa là làm cách nào để có bài cho ca viên hát :
-
hoặc là chia nhau ra chép thành nhiều bản,
-
hoặc sao chụp lại,
-
hoặc chép vào cuốn sách lớn để xem chung ...
Khâu
bài bản này nên giao cho một nhóm ca viên phụ trách (nhóm
Phụng vụ, xem phần 2).
1.5.
Huấn luyện ca viên :
Muốn ca viên đáp ứng được những đòi hỏi về nghệ
thuật của ca hát, ca trưởng cần phải huấn luyện ca viên
mình về âm nhạc (nhạc lý + xướng âm), về thanh nhạc,
về phụng vụ Thánh nhạc (có thể nhờ Cha xứ hay một ai
khác chuyên môn về Thánh nhạc giúp đỡ nếu chính ca trưởng
không tự mình làm được).
Ca
viên càng hiểu biết về âm nhạc, thanh nhạc, thánh nhạc
... thì càng tiếp thu và thể hiện tốt ý định của ca trưởng.
Nhờ đó công việc tập dượt của ca trưởng sẽ mau mắn,
nhẹ nhàng hơn.
1.6.
Một số trường hợp xử trí[9]
:
Khi thành lập một ca đoàn mới, hoặc khi được cử ra để
đảm trách một ca đoàn có sẵn thay cho một ca trưởng khác,
thì ngườc ca trưởng mới
phải coi ca đoàn đó như là một ca đoàn mới đối với mình,
nghĩa là thế nào cũng có những uốn nắn, sửa chữa, bổ
sung, tăng cường để làm cho ca đoàn tiến thêm. Nhưng nên
chú ý đến các điểm sau :
a.
Khi mới được giao một ca đoàn, đừng
vội vàng thay đổi hay đưa ra các quyết định sớm quá.
Nên quan sát, tìm hiểu tình hình trước đã. Nên tạm “đi
đôi giày của ca trưởng trước mình”
b.
Nếu có thay đổi gì, nên cắt
nghĩa lý do tại sao, chứ không nên chỉ trích lề lối cũ.
c.
Nên tập một vài bài hay
mà mình thích, và biết chắc là có hiệu quả trên ca viên.
d.
Những điểm tích cực
thấy được nơi ca đoàn thì nên dành cho ca trưởng cũ, các
khuyết điểm thì không nên đổ lỗi cho ai cả.
e.
Tăng cường tiếp xúc nhân
bản (ngoài âm nhạc), để hiểu biết con người ca viên,
gia đình, thói quen, sở thích của họ ...
f.
Dùng phương pháp trực
tiếp (xem bài Tập dượt) để dễ có tiếp xúc cá nhân.
1.7.
Uy tín của người ca trưởng :
một phần là do khả năng chuyên môn của mình (hiểu biết
về âm nhạc, biết huấn luyện, chọn bài, dọn bài, tập dượt,
điều khiển ...) và
một phần khác không kém quan trọng là do khả năng giao
tiếp gây được sự thiện cảm nơi ca viên. Linh mục Pierre
Kaelin nói : Ca trưởng vừa là “cái đầu” vừa là “con
tim” của ca đoàn. Cái đầu,
với tư cách là một người lãnh đạo chuyên môn trong lãnh
vực hợp ca. Con tim,
với tư cách là người tạo được thiện cảm đối với
ca viên, liên kết các ca viên bằng những tương quan bằng
hữu, thân ái, từ đó đem lại niềm vui cho sinh hoạt hợp
ca.
1.8.
Sơ đồ tổ chức chuyên môn :

2.1.
Tự nó, tổ chức chuyên môn (Ca trưởng - Bè trưởng - Ca viên),
với các sinh hoạt thường xuyên như tập hát và hát lễ
hằng ngày, hằng tuần hoặc hằng tháng, có đủ sức để
nuôi dưỡng và duy trì một ca đoàn hoạt động lâu dài,
nếu người ca trưởng có bản lãnh , có chuyên môn, biết
chú ý đến đời sống tinh thần của từng ca viên. Nhưng
trong thực tế, ca trưởng nên có sự hỗ trợ của một ban
điều hành để linh hoạt đời sống ca đoàn với
những sinh hoạt phụ trội khác, gọi là tổ
chức hành chánh. Chúng tôi gợi ý một số điểm để
ca trưởng tuỳ nghi tổ chức, nếu hoàn cảnh cho phép.
2.2.
Trước hết, nên có những cố
vấn tinh thần như Cha xứ hoặc Cha phó, hoặc Thầy xứ,
hoặc Nữ tu ... để nâng đỡ, khuyến khích, sửa dạy ca đoàn.
Ngoài ra cũng nên có ban
bảo trợ ca đoàn, gồm những người có uy tín trong giáo
xứ, quan tâm đến âm nhạc. Các người bảo trợ sẽ nâng
đỡ ca đoàn về mặt tinh thần cũng như vật chất.
2.3.
Ban điều hành ca đoàn
gồm một Đoàn trưởng, một hoặc hai Đoàn phó, một thư ký,
một thủ quỹ. Ca trưởng cũng có thể được bầu để kiêm
nhiệm chức vụ ca đoàn trưởng, nếu ca đoàn còn non trẻ.
Đoàn trưởng cùng với Đoàn phó lo điều hành ca đoàn
trong các sinh hoạt “ngoài âm nhạc”, nghĩa là ngoài
những hoạt động thuần tuý âm nhạc, liên quan đến trách
nhiệm của ca trưởng (như : huấn luyện, chọn bài, tập dượt,
trình tấu).
Thư
ký làm biên bản các buổi họp. Ghi chép sổ “nhật ký”
của ca đoàn ... Thủ quỹ lo bảøo trì và phát triển quỹ
của ca đoàn, do đóng góp hoặc quà tặng ...
2.4.
Ban điều hành được sự cộng tác của các trưởng
nhóm Phụng vụ, Sinh hoạt, Tông đồ và Âm thanh nhạc cu
ï(ÂTNC).
a-
Nhóm Phụng vụ phụ giúp
ca trưởng để kiện toàn ca mục, để cung cấp bài
bản và làm các công tác khác liên quan đến Phụng vụ,
nếu có ( như dẫn lễ, đọc Sách Thánh ...)
b-
Nhóm Sinh hoạt chịu trách
nhiệm về các sinh hoạt khác như mừng sinh nhật, mừng
bổn mạng của ca viên, của ca đoàn, của các bảo trợ,
cố vấn, của giáo xứ ... Nói chung là các sinh hoạt vui tươi
gây tình thân ái với nhau và với tha nhân (văn nghệ, cắm
trại, picnic, liên hoan ...)
c-
Nhóm Tông đồ nhằm gây tinh thần tông đồ, xã hội nơi
ca viên bằng các việc làm như thăm viếng, tương trợ ca viên
và gia đình trong những biến cố vui buồn đặc biệt của
họ (ốm đau, tang chế, cưới hỏi ...). Gây ý thức tông đồ
bằng cả việc xã hội : giúp đỡ người nghèo túng ngoài
ca đoàn, ngoài xứ đạo ... Động viên tinh thần ca viên,
nhất là trong việc đi tập hát cho đúng giờ và đông đủ,
vì tham gia ca đoàn cũng là một việc tông đồ.
d-
Nhóm Âm thanh, Nhạc cụ
lo về âm thanh, ánh sáng, nhạc cụ, bục đứng, giá
nhạc… cho ca đoàn, nhất là trong những buổi lễ lớn,
tổ chức ngoài trời ... Đặc biệt về âm thanh, nên có vài
ca viên hiểu biết để sắp đặt micro, điều chỉnh tăng
âm cho phù hợp với ca đoàn và yêu cầu của hợp ca. Nếu
ca đoàn dùng chung âm thanh với chủ tế, thì người điều
chỉnh chung cũng nên đáp ứng điều chỉnh âm lượng và
sắp xếp micro và loa theo yêu cầu của ca trưởng.
2.5.
Các ca viên đều tham gia
từ một đến hai nhóm nêu trên : riêng nhóm tông đồ nên
chia các ca viên thành từng
tổ theo địa dư để dễ liên lạc với nhau. Tổ
trưởng có trách nhiệm liên hệ với các tổ viên để
biết tình hình gia đình và bản thân của họ, để kịp
thời thông báo lại với trưởng nhóm Tông đồ ...
2.6.
Ban điều hành nên có những buổi họp
định kỳ hàng tháng, để kiểm điểm sinh hoạt tháng.
Ban điều hành cùng với các Trưởng nhóm và phó nhóm làm
thành ban điều hành mở
rộng, nên có những buổi họp
định kỳ hàng quý để sơ kết sinh hoạt, góp phần thăng
tiến ca đoàn.
2.7.
Sơ đồ tổ chức hành chánh
:

2.8.
Kết luận : Tổ chức hành chánh hỗ trợ cho tổ chức
chuyên môn. Đó là một dịch vụ nhằm giúp ca đoàn hoàn thành
tốt công tác chính của mình là tập để hát lễ, hát làm
sao để “tôn vinh Thiên Chúa và thánh hoá các tín hữu”.
Dù
với tư cách là ca trưởng, hay với tư cách là một ca đoàn
trưởng hoặc một trưởng nhóm, người lãnh đạo nào cũng
cần biết cách tổ chức công việc. Thường có 3 giai đoạn
:
3.1.
Giai đoạn chuẩn bị.
3.2.
Giai đoạn thực hiện.
3.3.
Giai đoạn đúc kết.
Trong
mỗi giai đoạn, chúng ta sẽ xem xét :
-
những việc phải làm,
-
những khả năng trí tuệ,
-
và những đức tính cần có của người lãnh đạo.
3.1.
Giai đoạn chuẩn bị :
Đây là giai đoạn quan trọng quyết định sự thành công
của công việc. Nếu chuẩn bị chu đáo thì có thể nói công
việc đã được một nửa. Do đó, có người đã dám nói :
“Lãnh đạo là tiên liệu”, nghĩa là chuẩn bị trước
thật kỹ càng để xem công việc sẽ tiến triển theo hướng
nào thì mới có những sự chuẩn bị xa hầu đáp ứng kịp
thời với tình thế.
a.
Các việc phải làm :
a.1.
Xác định các yếu tố
liên quan đến :
-
Nội dung công việc : làm gì ? gồm những việc gì ? (What ?)
-
Lý do và mục đích : Tại sao phải làm ? Làm để làm gì ?
(Why ?)
-
Nhân sự : Ai làm ? (người chịu trách nhiệm chính). Ai bảo
làm ? (người ra lệnh, cấp trên). Làm với ai ? (cộng sự
viên ...) (Who ?)
-
Cách thế và phương tiện : Làm như thế nào ? Bằng phương
tiện nào ? (How ?)
-
Nơi chốn : Làm ở đâu ? (Where ?)
-
Thời gian : Lúc nào ? Trong bao lâu ? (When ?)
a.2.
Xác định yếu tố nào
có sẵn, không thể thay đổi được : thường “nội dung công
việc” hoặc “lý do, mục đích” là yếu tố có sẵn, do
cấp trên chỉ thị hay yêu cầu. Còn các yếu tố khác, có
thể tuỳ nghi bàn bạc, thay đổi. Khi đã xác định rõ
yếu tố nào có sẵn, thì ta sẽ từ đó mà khai triển các
yếu tố còn lại cho phù hợp với yếu tố có sẵn đó.
a.3.
Phân tích nội dung công
việc, tức là liệt kê các việc phải chuẩn bị xa gần. Nên
hội ý, tham khảo những người biết việc, có nhiều kinh
nghiệm hơn mình trong lãnh vực này (tham khảo các chuyên viên).
a.4.
Thâu tóm các việc tương
cận vào một số khâu chủ yếu.
a.5.
Phân công phân nhiệm : Tìm
người có khả năng và có tinh thần trách nhiệm để giao
cho họ đảm trách các khâu. Khi phân công cho các cộng sự
viên, cũng cần phân nhiệm, nghĩa là phân chia trách nhiệm rõ
ràng : họ có quyền hạn tới đâu ? Đối với ai ? Việc gì
thì tự ý làm được ? Việc gì không tự ý làm được ?
... Từ đó, hình thành sơ đồ tổ chức nhân sự cũng như
tổ chức công việc theo hàng dọc cũng như hàng ngang.
a.6.
Gặp gỡ với các cộng
sự viên đã được phân công phân nhiệm : Gợi ý, đề
nghị cách thức và phương thế thực hiện công việc. Người
lãnh đạo cần trao đổi với các cộng sự viên, và không
nên áp đặt một điều gì không thực sự cần thiết. Trái
lại, khuyên họ nên tìm hiểu, hỏi han thêm để có thể hoàn
thành công việc được giao phó cách tốt đẹp nhất.
a.7.
Tiên liệu những giải pháp
phòng hờ : Chính người lãnh đạo phải thấy trước
những hoàn cảnh khác nhau có thể xảy đến, và trong mỗi
hoàn cảnh “bất trắc” đó, mình đều nghĩ trước
những cách đáp ứng kịp thời.
a.8.
Lên lịch trình những việc
phải xúc tiến trước hoặc sau : Định rõ thời gian
bắt đầu chuẩn bị và thời gian phải hoàn tất, phải báo
cáo lại, qua bảng “thời biểu tổng quát” các công
việc chuẩn bị.
a.9.
Phác hoạ chương trình
chi tiết về chính công việc phải làm cùng với các cộng
sự viên của mình.
a.10.
Xúc tiến các việc
phải chuẩn bị xa và ấn định những buổi gặp gỡ định
kỳ để theo dõi và thông báo tiến trình chuẩn bị.
b.
Khả năng trí tuệ của người lãnh đạo :
Trong
giai đoạn chuẩn bị, người lãnh đạo phải biết “nhìn
rộng” và “nhìn xa” :
b.1.
Nhìn rộng : Để bao quát
được nhiều khía cạnh của vấn đề, của công việc. Người
lãnh đạo có thể mở rộng cái nhìn của mình nhờ tham
khảo ý kiến của người khác (chuyên viên).
b.2.
Nhìn xa : Để tiên
liệu, để định hướng, để ngăn ngừa. Người lãnh đạo
như “sống trước” các công việc sẽ thực hiện, nhờ
khả năng nhìn về tương lai, đoán trước được hậu quả
của các công việc, lường trước được phản ứng của
tha nhân, cảm nhận trước được thành quả của công
việc. Từ đó, tính toán trước được mọi việc để
ứng phó kịp thời.
c.
Đức tính của người lãnh đạo :
Trong
giai đoạn chuẩn bị, người lãnh đạo cần những đức tính
này hơn cả : Khiêm tốn, cầu tiến, đối thoại.
c.1.
Khiêm tốn lắng nghe,
tham khảo kẻ khác hầu mở rộng và kéo xa cái nhìn hạn
hẹp của mình.
c.2.
Cầu tiến là tinh thần
tìm tòi, học hỏi để thăng tiến cũng như cải tiến bản
thân. Trong khi làm việc chung với các cộng sự viên, tinh
thần cầu tiến giúp người lãnh đạo dễ dàng tiếp nhận
những ý kiến, đề nghị, sáng kiến hữu ích của kẻ khác,
giúp cho công tác chuẩn bị được kỹ càng hơn.
c.3.
Tinh thần đối thoại là
tinh thần của người khiêm tốn và cầu tiến, ý thức mình
không biết hết đầy đủ mọi việc, mọi chân lý, nên
cần trao đổi, bàn bạc để làm sáng tỏ vấn đề, để
chân lý được tỏ rạng hơn. Khi đối thoại là ở trong tư
thế mình sẵn sàng bỏ ý kiến của mình để đón nhận ý
kiến hay hơn, hợp hơn của kẻ khác. Khi làm việc chung
với các cộng sự viên của mình, người lãnh đạo phải có
tinh thần đối thoại, và biết cách đối thoại, để tạo
sự hợp tác chân thành của các cộng sự viên.
3.2.
Giai đoạn thực hiện :
Đây
là giai đoạn không những chỉ làm việc với các cộng sự
viên như Trưởng ban, Trưởng nhóm, Trưởng tổ ... nhưng còn
nên theo sát việc làm của mọi thành viên được chừng nào
hay chừng nấy. Tuy nhiên, khi cần ra chỉ thị gì thì chỉ nên
ra thông qua các Trưởng ban mà thôi.
a.
Các việc phải làm :
a.1.
Theo dõi diễn tiến công
việc từ khởi đầu cho tới lúc kết thúc. Phải có sự
hiện diện ở những thời điểm quan trọng hay ở những nơi
có công tác quan trọng.
a.2.
Đôn đốc, khích lệ để
cho công việc tiến hành như dự liệu.
a.3.
Điều chỉnh kịp thời
khi có sai sót, chậm trễ.
b.
Khả năng trí tuệ của người lãnh đạo :
Giai
đoạn thực hiện đòi hỏi người lãnh đạo phải biết
“nhìn chung” và “nhìn kỹ”.
b.1.
Nhìn chung : là nhìn toàn
thể, nhìn tổng hợp, nhìn bao quát được mọi công việc
đang diễn tiến, xem có đồng bộ, kịp thời không. Người
lãnh đạo không để bị lôi cuốn vào các tiểu tiết, các
điều cá biệt, mà quên đi cái chính yếu, cái quan trọng
phải hoàn thành.
b.2.
Nhìn kỹ : là việc gì mình
cũng phải để ý tới, nhất là thấy cho rõ, thấy cho tinh
những điều hay cũng như những điều dở, điều đúng cũng
như điều sai sót trong công việc làm của tất cả các khâu.
Nếu có quá nhiều việc mà mình không theo dõi hết được
thì phải giao trách nhiệm cho các Trưởng ban, Trưởng nhóm
để thường xuyên tường trình cho mình về diễn tiến các
công việc, hoặc nhờ người phụ tá của mình chia sẻ
một phần công việc đôn đốc, điều chỉnh của mình.
c.
Đức tính của người lãnh đạo :
Trong
giai đoạn thực hiện, người lãnh đạo cần nhất là sự
bình tĩnh và tính quyền biến.
c.1.
Bình tĩnh : làm chủ được
các hành động của mình, không bối rối, lo sợ, cuống quýt
trước mọi tình huống thuận lợi hoặc bất lợi. Có
những người tự bản tính rất bình tĩnh, có những người
khác không được như vậy. Có thể tập luyện để càng ngày
càng bình tĩnh hơn, nhất là trước một số hoàn cảnh
nhất định nào đó, chẳng hạn như khi tiếp xúc với người
lạ, hoặc đứng trước đám đông ... Cần tạo cho mình lòng
tự tin nhờ vào khả năng đích thực của mình (một người
ca trưởng có học tập, có khả năng thì tự tin hơn người
ca trưởng không được học hỏi).
c.2.
Quyền biến : là biết
ứng phó một cách linh hoạt trước các biến cố bất thường,
chưa tiên liệu trước. Người lãnh đạo biết quyền biến
sẽ quyết định nhanh chóng và sáng suốt điều gì cần làm
tức thời, không thể trì hoãn lâu để suy nghĩ hay để
hỏi ý kiến kẻ khác được. Trong giai đoạn thực hiện công
việc, thì đức tính này cũng khá cần thiết cho người lãnh
đạo, nhất là khi phải điều chỉnh kịp thời những bất
trắc hoặc sai sót xảy ra.
3.3.
Giai đoạn đúc kết :
Công
việc nào, sau khi hoàn tất, cũng nên có đúc kết để rút
kinh nghiệm : rút ra khuyết điểm để tránh, rút ra ưu điểm
để phát triển thêm. Công việc đúc kết này có thể làm
bằng nhiều cách.
-
Nếu công việc nhỏ, chỉ cần bản thân người lãnh đạo
tự đúc kết như một cuộc kiểm điểm việc làm của mình.
-
Nếu công việc lớn hơn, liên quan đến tập thể nhiều hơn,
ta nên tổ chức những buổi họp riêng các cộng sự viên,
hoặc chung mọi người tham gia công việc, để đúc kết ...
a.
Các việc phải làm
a.1.
Các cộng sự viên đánh giá
về thành quả công việc.
a.2.
Lắng nghe sự nhận định của những
người khác, nếu có.
a.3.
Người lãnh đạo đúc kết,
một phần dựa trên ý chung, một phần dựa trên sự nhận
định của chính bản thân
mình. Với tư cách là người chịu trách nhiệm chung về
công việc, người lãnh đạo phải có đủ yếu tố để lượng
định xem : kết quả công việc ra sao ? Có đạt được
mục đích đề ra hay không ? Đâu là ưu điểm ? Đâu là
khuyết điểm ?
-.
Thường người ta khó thấy ưu điểm hơn là khuyết điểm.
Khuyết điểm dễ thổi phồng đối với những người không
có thiện cảm với công việc của mình. Người lãnh đạo
phải đủ sáng suốt và công tâm để nhìn ra vừa ưu điểm
vừa khuyết điểm một cách trung thực.
-.
Người lãnh đạo phải công minh khi khen thưởng, nhưng bao
dung khi khuyến cáo, sửa sai. Nên tìm ưu điểm để khích
lệ hơn là moi móc khuyết điểm để bêu xấu, hạ bệ.
a.4.
Đề xuất cho tương lai
: sau khi rút ưu khuyết điểm về công việc cũng như về
tinh thần của các người thực hiện công việc, người lãnh
đạo biết rút ra những kết luận thực tế để làm kinh
nghiệm cho tương lai, nhất là đề
ra hướng đi sắp tới của đoàn thể.
b.
Khả năng trí tuệ của người lãnh đạo :
Giai
đoạn đúc kết thường diễn ra vài ngày hoặc vài tuần
sau khi hoàn thành. Trong thời gian đó, chính người lãnh đạo
phải chuẩn bị cho buổi họp đúc kết chung. Do đó, người
lãnh đạo cần có khả năng biết “nhìn lui” và “nhìn
tới”.
b.1.
Nhìn lui : là nhìn ngược
lại quá khứ. Người lãnh đạo phải nhớ
lại mục đích chủ yếu của công việc, nhớ lại được
diễn tiến của các giai
đoạn chuẩn bị cũng như giai đoạn thực hiện, để qua đó
nhận ra được những cái chính yếu, những gì đáng nói,
đáng đề cao, đáng khích lệ, nên khuyến cáo, nên sửa sai
... trong bản đúc kết của mình. Không được bỏ sót
những ưu điểm cũng như khuyết điểm quan trọng ... Người
có khả năng biết nhìn lui, là người không những có trí
nhớ tốt, mà còn biết rút ra những bài học từ những
biến cố đã qua.
b.2.
Nhìn tới : là nhìn lên
phía trước, nhìn về tương lai. Người lãnh đạo biết nhìn
tới, là người có khả năng, từ thực tế hiện tại, đề
xuất ra được hướng đi phù hợp cho tương lai, có khả năng
biến thất bại trong quá khứ ra thành công trong tương lai.
“Thất bại là mẹ thành công”, hoặc dù “không thành công,
thì cũng thành nhân”, như lời của ông Nguyễn Thái Học
đã nói.
c.
Đức tính của người lãnh đạo :
Trong
giai đoạn đúc kết, ngoài tính khiêm
tốn cần thiết cho mọi giai đoạn, ngoài tính công
minh và bao dung cần
thiết cho việc lượng định, đánh giá các thành quả công
việc của người dưới quyền, như đã nói ở trên, thì người
lãnh đạo còn cần có tính thực
tế và tính lạc quan.
c.1.
Tính thực tế hay óc
thực tế, là nhìn nhận sự việc một cách khách quan, với
cái hay cũng như cái dở trong đó, và nhất là tỏ ra thiết
thực trong các hoạt động của mình, không ảo tưởng, xa
vời ... Không thổi phồng cái hay, không ém nhẹm cái dở, mà
trái lại biết chấp nhận thực tại một cách bình tĩnh, và
hành động một cách phù hợp với thực tại đó. Người lãnh
đạo thực tế không để những lời khen, lời tâng bốc làm
quên đi những khuyết điểm của công việc mình, và cũng
không để những lời chê bai, gièm pha phủ lấp những ưu
điểm của công việc, từ đó có được một thái độ phù
hợp với “thực tế”.
c.2.
Tính lạc quan : là nhìn
sự việc dưới khía cạnh tích cực, tốt đẹp của nó, do
thái độ tin tưởng con người có thể cải tiến trong tương
lai. Người lạc quan không bao giờ thất vọng, vì trong mọi
việc, mọi người, dù có dở tới đâu thì vẫn tìm thấy
được những cái hay, cái tích cực, và trên cơ sở những
cái hay, cái tích cực đó, người lãnh đạo thực tế và
lạc quan có thể xây dựng những kế hoạch cho tương lai.
Chính tính lạc quan sẽ đem lại niềm an ủi và niềm vui
cho bản thân người lãnh đạo, cũng như cho mọi người làm
việc với mình. Nó khích lệ mọi người cải tiến bản thân,
cải tiến công việc cho tốt đẹp hơn trong tương lai.
*
* * * *
Tóm
lại,
người ca trưởng cần học để biết tổ chức công việc
trong lãnh vực chuyên môn (âm nhạc), cũng như trong lãnh
vực hành chánh. Nhưng phải lưu tâm đến các điểm sau :
1.
Không phải ai cũng có đầy đủ ngay tất cả các khả năng
trí tuệ cũng như tất cả các đức tính cần thiết như
vừa nêu trên. Có những người tự nhiên có khả năng lãnh
đạo hơn những người khác ; có những người phải học
tập nhiều để thủ đắc được phần nào một số khả năng
và đức tính cần thiết. Vì thế, cần phải khiêm tốn
nhận ra chỗ non kém của mình, để biết hỏi han, nhờ
cậy người khác có khả năng hơn chia sẻ trách nhiệm với
mình.
2.
Người lãnh đạo tốt là
người có khả năng đào tạo thêm những con người tốt,
biết làm việc chung với nhau trong tinh thần trách nhiệm và
tôn trọng lẫn nhau, và nhất là đào tạo thêm được một
số người có thể thay thế mình, tiếp tục công việc
của mình. Do đó, đừng ngại giao
công việc để cho họ tập lãnh
trách nhiệm. Nhất là lưu
tâm đến con người hơn là đến công việc, khi hoàn
cảnh cho phép : Người lãnh đạo nào nhờ con người để
đạt được công việc thì tuy sẽ có thể được việc
trong hiện tại, nhưng sẽ mất lòng người trong dài hạn. Còn
người lãnh đạo nào, thông qua công việc, biết lưu tâm,
chăm sóc, huấn luyện con người, thì sẽ được việc dài
hạn và được cả lòng người về lâu về dài :
|
Cách
lãnh đạo |
Phương
tiện |
Mục
đích |
Thành
quả |
|
độc
đoán |
con
người |
công
việc |
được
việc ngắn hạn
mất
người dài hạn |
|
dân
chủ |
công
việc |
con
người |
được
việc dài hạn
được
người dài hạn |
3.
Từ đó, nảy sinh vấn đề giao
tế nhân sự, vấn đề tương quan nhân bản giữa người
lãnh đạo và các người cùng làm. Trong những công việc
cấp bách, đột xuất, người lãnh đạo cần đưa ra quyết
định kịp thời và quả quyết, không thể chần chờ
nhiều để suy nghĩ, để hỏi han, bàn bạc với người khác,
thì cách lãnh đạo độc đoán
xem ra cần thiết, để công việc trôi chảy tức thời. Nhưng
trong đa số những trường hợp khác, khi có thời giờ để
hoạch định chương trình, thì cách lãnh
đạo dân chủ - nghĩa là cách lãnh đạo có đối
thoại, trao đổi, bàn bạc, thuyết phục, có sự tham gia góp
ý của nhiều người để đi đến ý kiến chung phù hợp
với hoàn cảnh, phù hợp với con người ... - xem ra sẽ không
những làm cho công việc tiến hành tốt đẹp, mà còn giúp
phát triển khả năng đóng góp và tinh thần trách nhiệm
của các người cùng làm.
1.
Ca trưởng cần biết làm những gì trong khâu tổ chức chuyên
môn cho một ca đòan ?
2.
Con số ca viên trong từng bè như thế nào ? Xếp chỗ ra sao
?
3.
Huấn luyện cho ca viên những gì ? Cần thiết ra sao ?
4.
Uy tín của ca trưởng do đâu mà có ?
5.
Tổ chức hành chánh là gì ? Để làm gì ?
6.
Các nhóm Phụng vụ, Sinh hoạt, Tông đồ, Âm thanh nhạc cụ
làm những việc gì ?
7.
Các việc cần làm trong giai đoạn chuẩn bị ?
8.
Khả năng trí tuệ và đức tính của lãnh đạo trong giai đoạn
chuẩn bị ?
9.
Giai đoạn thực hiện, cần làm gì ? Cần đức tính nào ?
10.
Giai đoạn đúc kết nên làm gì ?
11.
Khả năng trí tuệ và đức tính cần cho người lãnh đạo
trong giai đoạn này ?
12.
Thế nào là người lãnh đạo tốt ?
13.
So sánh hiệu quả của hai lối lãnh đạo độc đoán và lãnh
đạo dân chủ ? Bạn nghĩ nên theo cách nào ?