KIẾN THỨC CHUYÊN MÔN
CỦA CA TRƯỞNG
|
1. Vai trò và nhiệm vụ của ca trưởng 2. Phần sửa soạn chung cho ca trưởng |
NGÔN NGỮ THẦM LẶNG CỦA CA TRƯỞNG
1. Các phương tiện diễn đạt của Ca trưởng. 2. Các tính chất của ngôn ngữ thầm lặng.
3. Quan
niệm điều khiển lý tưởng
4. Câu
Hỏi
Chính
nhờ sự diễn đạt thầm lặng nhưng hữu hình đó, mà ca trưởng
mới có thể giúp các ca viên
cùng diễn tả bản nhạc, đúng hơn là cùng
sống bản nhạc với mình [13]
Dưới
đây chúng ta sẽ lần lượt xét đến :
1.
Các phương tiện diễn đạt của ca trưởng
2.
Các tính chất của ngôn ngữ thầm lặng
3.
Quan niệm điều khiển lý tưởng
1.
Các
phương tiện
diễn đạt của ca trưởng.
1.1.
Tư thế của toàn thân :
ca trưởng đứng thẳng đầu, thẳng lưng, thẳng gối.
Hai bàn chân song song hướng về phía trước,
cách xa nhau 10 - 15 cm, tạo
thành
những điểm tựa vững chắc cho các tư thế trước,
giữa hoặc sau
của toàn thân.
a.
Tư thế giữa là tư thế
mà trọng tâm cơ thể dồn đều lên cả hai bàn chân. Đây là
tư thế trung lập, chuẩn bị cho tư thế trước hoặc sau.
b.
Tư thế trước dùng chân
trước làm trụ, trọng tâm dồn lên các đầu
ngón chân trước. Chân sau phải nhón gót. Đầu, lưng,
gối luôn luôn giữ thẳng = không cúi đầu, không gập lưng,
không ưỡn bụng ra, không gãy gối chân sau. Chân sau, cột
sống và đầu, hầu như nằm trên một đường thẳng xiên so
với mặt đất.
Tư
thế trước diễn đạt
sự căng thẳng, gay cấn, vươn lên, tấn công, khuyến khích,
cao trào, mạnh mẽ ...
c.
Tư thế sau dùng chân sau làm
trụ, trọng tâm dồn dần lên gót
chân sau. Không ưỡn bụng ra trước. Chân trước, cột
sống và đầu hầu như nằm trên một đường thẳng xiên so
với mặt đất.
Tư
thế sau diễn đạt sự
thoải mái, thư giãn, giảm bớt, thế thủ, can gián, nhẹ nhàng
...
Khi
đứng ở tư thế sau, thân trên (từ thắt lưng trở lên) có
thể đong đưa nhẹ nhàng sang phải sang trái theo tiết tấu,
để diễn đạt sự linh
hoạt, nhịp nhàng, thoải mái, dễ chịu ...
1.2.
Đôi tay
là phương tiện điều khiển thông thường nhất của các ca
nhạc trưởng. Đôi tay gồm cánh sau, cánh trước, bàn tay, ngón
tay và cả đũa nhịp.
a.
Cánh sau : không nên để
ép sát vào hai bên sườn. Nên nâng cánh cách sườn từ 30 độ
trở lên tuỳ theo nét nhạc nhẹ hay mạnh. Cánh sau là bộ
phận di động ít nhất so với cánh trước và nhất là so
với bàn tay. Tránh treo cánh, tức là luôn luôn nâng cánh ở
một mức cố định 90 độ so với sườn.Trái lại nâng cánh
lên xuống nhẹ nhàng theo điều mình muốn diễn
đạt: Cánh sau càng nâng lên, càng diễn tả sự gay cấn,
mời gọi, tăng cường, trang trọng ...
b.
Cánh trước : cần di động
ra vào, lên xuống nhẹ nhàng với sự hỗ trợ vừa phải
của cánh sau. Tránh để cánh trước giữ một góc cố định
với cánh sau, gây ra hiện tượng đánh nhịp bằng cùi chỏ.
Cánh trước càng mở rộng góc so với cánh sau, thì càng biểu
hiện được cường độ mạnh hơn, hoặc ý nghĩa bao la, bát
ngát, rộng rãi ...
c.
Bàn tay đi liền và thẳng
hàng với cánh trước, như có một đường thẳng đi dọc
theo cánh trước đến đầu các ngón trỏ và ngón giữa. Không
để bàn tay thõng úp xuống phía trước hoặc nghẹo qua một
bên. Trái lại, nên để bàn tay mềm mại đi theo hướng của
cánh trước, bàn tay như bị nước cản ngược với hướng
của cánh tay. Chỉ sử dụng cổ tay khi cầm đũa nhịp.
c.1.
Bàn tay mềm diễn đạt nét
nhạc mềm mại, liền tiếng, êm dịu, buông lỏng ... Bàn
tay cứng diễn đạt nét
nhạc rời, căng thẳng, gay cấn ...
c.2.
Lòng bàn tay biểu lộ sự
mềm mại, dùng để diễn đạt sự cản ngăn, giảm bớt,
nhẹ nhàng ... Mu bàn tay
biểu lộ sự gân guốc, dùng để diễn đạt sự cứng rắn,
mạnh mẽ, căng thẳng ...
c.3.
Các ngón tay :
-
Ngón giữa, hơi chúi ra phía trước, như ngòi bút để vẽ các
nét nhịp liền tiếng, nhẹ nhàng, tinh tế. (Ngược lại, bàn
tay cứng dùng để vẽ các nét nhịp mạnh mẽ, oai hùng).
-
Ngón cái với ngón trỏ chụm
lại diễn tả sự thu nhỏ, cẩn trọng ...
d.
Đũa nhịp : là một
que mầu trắng, lớn hơn chiếc đũa, dài khoảng 40 cm, có cán
để dễ cầm, làm bằng gỗ hoặc ngà hoặc chất khác khó gãy.
Đũa nhịp là bàn tay nối dài của ca nhạc trưởng, giúp cho
cử chỉ thêm rộng rãi, rõ ràng, khi có các nhạc công, vì
ở tư thế ngồi, nên khó nhìn thắng vào ca nhạc trưởng
được. Chỉ nên dùng khi điều khiển dàn nhạc một mình,
hoặc dàn nhạc đệm cho ca đoàn[14]
với số lượng đông ca nhạc viên.
Khi
dùng đũa nhịp, người ta dùng cổ tay nhiều và dùng cánh tay
ít hơn. Bàn tay phải lo cầm đũa nhịp, không còn diễn tả
được bao nhiêu, nhưng lúc đó vẫn phải diễn tả bằng đũa
nhịp để bù lại phần nào mất mát đó.[15]
Có
thể cầm đũa nhịp bằng ngón cái và ngón trỏ. Khi đánh
mạnh, có sự hỗ trợ đắc lực hơn của ngón giữa. Chuôi
đũa đặt ở lòng bàn tay.
1.3.
Nét mặt :
được biểu lộ trên bộ mặt, chủ yếu nhờ đôi mắt và
đôi môi.
Có
nét mặt vui tươi, hoan hỉ, rạng rỡ, phấn khởi, linh động
...
Có
nét mặt trầm lắng, suy tự, sâu kín, nội tâm ...
Có
nét mặt ngước lên cao, hướng thượng, hy vọng, thán phục,
cảm mến ...
Có
nét mặt hơi cúi xuống, hướng nội, băn khoăn, xao xuyến ...
Có
nét mặt hài lòng, ưng thuận, khích lệ ...
Có
nét mặt dặn dò, lo lắng, can ngăn, bất bình ...
Con
người có tình cảm nào, đều có thể bộc lộ ra qua nét
mặt của mình.
a.
Đôi mắt là “cửa sổ tâm
hồn”, là phương tiện nhạy cảm nhất biểu lộ được
những tình ý trong tâm hồn của ca nhạc trưởng. Đôi mắt làm
linh động nét mặt. Chính chủ yếu nhờ đôi mắt mà ca
nhạc trưởng biểu lộ sự hài lòng hoặc lo lắng, cũng như
ý muốn của mình. Mắt mở to để diễn tả sức mạnh, mắt
gần như khép lại để diễn tả sự dịu dàng, mắt tinh
nghịch để diễn tả sự vui đùa, hài hước ...
Hướng
nhìn của đôi mắt có khi có giá trị như một cánh tay dặn
dò, can ngăn, khuyến khích ... Phối hợp với cái hất
đầu, có thể giúp các bè lấy hơi để vào bè.
Nói
chung tất cả các cử chỉ khác mà thiếu cái nhìn của đôi
mắt thì sẽ thiếu đi phần nào tính cách thuyết phục của
chúng.
b.
Đôi môi : người ca trưởng
có lợi thế hơn người nhạc trưởng ở chỗ ca trưởng có
thể thông công với ca viên bằng lời ca tiếng hát của mình.
Nhờ đôi môi, ca trưởng có một phương
thế thông đạt rất chính xác cho ca viên, đặc biệt
trong lãnh vực phát âm : Ca trưởng cùng hát với ca viên, có
thể giúp cho việc phát âm được đồng đều, không những
ca trưởng làm mẫu phát âm cho cả ca đoàn, mà có khi còn giúp
ca viên nhớ bài khi họ hát thuộc lòng. Ngoài ra, nguyên việc
hát chung với ca đoàn, môi miêng luôn thay đổi, làm cho nét
mặt linh động hơn.
Tuy
nhiên, ca trưởng không nên hát
ra tiếng khi bè đang hát khác giọng với mình, hoặc khi đứng
gần micro. Nhất là khi tập dượt, muốn lắng nghe các bè để
kiểm tra về cao độ, về âm lượng, về cân bằng hoà âm
... thì ca trưởng cũng không nên hát.
2.
Các
tính chất của
ngôn ngữ thầm lặng
Ngôn
ngữ thầm lặng không dùng đến lời nói, mà chỉ dùng
những cử chỉ, điệu bộ để diễn đạt tình cảm và ý
nghĩ của ca trưởng. Các cử chỉ, điệu bộ này là những
dấu hiệu hữu hình giúp chuyển đạt những tình ý vô hình
từ trong tâm hồn người điều khiển. Vì thế các dấu
hiệu này cần có ít nhất ba tính chất, đó là hữu
hiệu, đẹp mắt[16]
và có ý nghĩa[17]
2.1.
Cử chỉ hữu hiệu :
là cử chỉ diễn đạt tốt điều ca trưởng muốn nơi ca viên.
Ca viên hiểu được một cách mau mắn và làm theo ý ca trưởng
một cách dễ dàng. Muốn ca viên hiểu mau, làm dễ, thì các
cử chỉ phải càng gần với tự nhiên bao nhiêu càng hay bấy
nhiêu : các cử chỉ ước lệ càng gần với tự nhiên thì càng
dễ hiểu dễ làm. Các phương tiện diễn đạt của ca trưởng
ở phần trên rất gần với tự nhiên.
Ngoài
ra, muốn giúp
ca viên dễ dàng làm theo ý mình, ca trưởng phải biết
chuẩn bị[18]
cho họ bằng cách “báo trước kịp thời, mời gọi đúng lúc”,
từ việc khởi tấu, vào bè, tăng giảm cường độ, tạo cao
trào, thay đổi nhịp độ cho đến việc kết thúc.
Nếu
không chuẩn bị kịp thời, đúng lúc và đúng cách, thì cử
chỉ của ca trưởng sẽ kém hữu hiệu. Nhạc trưởng Leonard
Bernstein đã nói chí lý : “Yếu tố quan trọng trong kỹ
thuật diễn đạt của người điều khiển là sự chuẩn
bị. Mọi cái phải được thông báo cho dàn nhạc trước
khi nó xảy đến”[19].
Ca nhạc trưởng phải học tập nhiều để biết chuẩn bị
sao cho phù hợp, không quá sớm mà cũng không quá muộn :
chuẩn bị quá sớm sẽ ảnh hưởng đến dòng nhạc mà mình
đang diễn đạt, chuẩn bị quá muộn thì không kịp để giúp
ca viên cùng sống bản nhạc với mình.
2.2.
Cử chỉ đẹp mắt :
là cử chỉ có nghệ thuật, khiến người xem nhìn vào không
cảm thấy khó chịu chướng mắt. Khi nói điều khiển là
một nghệ thuật, người ta không những chỉ ám chỉ đến
nghệ thuật truyền đạt và lôi kéo các ca viên diễn tả
theo tình ý của mình, mà còn ám chỉ đến cả cách điều
khiển, tức cách sử dụng toàn bộ phương tiện của ngôn
ngữ thầm lặng.
Từ
tư thế toàn thân, đến cử chỉ đôi tay cũng như sắc thái
của nét mặt, tất cả phải được tập luyện sao cho được
hữu hiệu và đồng thời có nghệ thuật nữa. Những cử
chỉ, điệu bộ thiếu thẩm mỹ, nhất là thiếu tôn trọng
đối với người xem cần phải loại bỏ với bất cứ giá nào,
nếu ta vẫn muốn coi âm nhạc là một nghệ thuật, và điều
khiển âm nhạc cũng là một nghệ thuật.
2.3.
Cử chỉ có ý nghĩa:
là cử chỉ giúp người ta cảm nhận tình ý của tác phẩm
âm nhạc hơn. Đây là dấu hiệu phân biệt một ca nhạc trưởng
có hiểu và biết sống bản nhạc hay không. Một khi hiểu
bản nhạc và biết sống bản nhạc, ca trưởng sẽ tìm được
trong các kỹ thuật khác nhau, xem kỹ thuật nào phù hợp hơn
cả để diễn đạt tâm tình này, nét nhạc kia, ý nhạc nọ.
Các cử chỉ của Ca nhạc trưởng sẽ đi với ý nhạc như hình
với bóng.
Ở
một mức độ thông thường, ca nhạc trưởng giúp người ta
cảm nhận bản nhạc tốt hơn nhờ các hướng dẫn của mình
: khi thì hướng dẫn theo dõi các nhạc đề, khi thì hướng
dẫn theo dõi những nét đặc biệt chen vào các nhạc đề, có
lúc giúp để ý đến cao trào, hoặc ý tưởng chính của đoạn
hoặc bài nhạc, có lúc giúp để ý đến một âm thanh mới
âm thầm chen vào dòng nhạc chung của ca đoàn hoặc dàn nhạc
...
Đến
một mức độ nào đó, người ta có thể nói : Không
những ta nghe mà còn thấy âm nhạc nữa, nhờ sự diễn
tả trong không gian bằng ngôn ngữ thầm lặng bao gồm tất
cả mọi hành vi cử chỉ của ca nhạc trưởng. Ca nhạc trưởng
bổ túc phần nào yếu tố thị giác còn thiếu nơi thính
giả. Đó là lý do tại sao khi nghe nhạc sống - tức nghe và
nhìn thấy được người trình tấu - vẫn thích thú hơn khi
chỉ nghe nhạc qua đài phát thanh mà không nhìn thấy được
người trình tấu.
3.
Quan
niệm
điều khiển lý tưởng
Nhiều
câu hỏi có thể được đặt ra liên quan đến việc điều
khiển : tại sao cần có người điều khiển ? Người điều
khiển làm những việc gì ? Người điều khiển lý tưởng như
thế nào ? Tại sao có những lúc, những nơi không cần người
điều khiển vẫn đàn vẫn hát được ?
Để
trả lời các câu hỏi tương tự, chúng ta xét qua một số
quan niệm về điều khiển :
3.1.
Quan niệm điều khiển là
giữ nhịp
Người
điều khiển chủ yếu là người giữ nhịp, gồm việc bắt
nhịp lúc khởi tấu, giữ nhịp ở giữa bài và kết thúc cho
đồng đều. Thời xưa, tại Âu châu, người điều khiển
cầm một cây gậy dài, giữ nhịp cho ban vũ, ban nhạc bằng cách
gõ gậy xuống đất mỗi khi bước chân các vũ công phải
hạ đều trên đất.
Đối
với ca đoàn, có thời, chính người đệm đàn bắt cung và dùng
đầu ra hiệu cho ca đoàn khởi tấu, rồi dẫn dắt ca đoàn
bằng tiếng đàn, với đôi mắt và cái đầu của mình. Đối
với ban nhạc, đã có thời và bây giờ vẫn còn, người trưởng
bè violon I hoặc người đệm đàn phím[20]
ra hiệu cho ban nhạc khởi tấu, dẫn dắt nhịp độ và
chuẩn bị kết thúc. Các ban nhạc trẻ, ban nhạc Jazz, cũng không
có người điều khiển tách biệt ra, mà chỉ có người chủ
chốt trong ban nhạc giúp khởi tấu, cho nhịp độ và báo
hiệu kết thúc.
Điều
đó có thể chấp nhận được bao lâu đó là loại âm nhạc
bình dân, đại chúng, không cần diễn tả nhiều, hoặc bao lâu
mà số người trong ca đoàn hoặc ban nhạc còn ít, gồm
những người có khả năng và được tập luyện kỹ càng. Nhưng
khi số ca viên (như từ thời có các bài hợp ca đa điệu)
hoặc số nhạc công trở nên đông (như từ thời Beethoven) thì
cần phải có người đứng ra để giữ sự đồng đều, ăn
khớp giữa các ca nhạc viên với nhau[21]
Nhất là khi các bản nhạc càng ngày càng phức tạp,
cần diễn tả đa dạng, thì vai trò người điều khiển -
giữ nhịp không còn đủ nữa, mà cần phải có người điều
khiển vừa biết giữ nhịp vừa biết diễn tả nữa [22]
3.2.
Quan niệm điều khiển là giữ nhịp vaø
diễn tả
Đây
là một quan niệm đúng đắn, vì âm nhạc không chỉ có trường
độ mà còn có cao độ, cường độ, âm sắc và nhất là ý
nghĩa, cảm tính. Giữ đúng nhịp độ để đạt đến sự đồng
đều không thôi, thì chưa đủ. Mà còn phải điều khiển sao
cho sự trình tấu được diễn cảm, với sự góp phần của
cường độ, sắc thái âm thanh, tốc độ thay đổi của dòng
cảm hứng ... Sự khác biệt giữa người chỉ biết giữ
nhịp và người biết cả diễn tả giống như sự khác biệt
giữa một người máy giữ nhịp và một người điều khiển
có hồn.
a.
Giữ nhịp và
diễn tả
Trong
khi muốn đảm nhận một lúc cả hai vai trò giữ nhịp và
diễn tả, trong quá khứ đã có vấn đề dung hoà hai công
việc đó như thế nào cho tiện lợi và phù hợp. Những người
quá khích nhất đã chọn giải pháp đơn giản và dễ dàng
nhất đó là giao cho tay phải giữ nhịp, còn tay trái diễn
tả. Có những người khác bớt quá khích hơn, nhưng vẫn phân
biệt hai chức năng khác nhau dành cho hai tay.
Chúng
ta có thể hiểu được hoàn cảnh đưa đến sự phân công này
: trong quá khứ, khi nhạc trưởng còn phải dùng tay trái để
lật trang bản tổng phổ gần như liên tục, thì không thể
giao cho tay trái nhiệm vụ giữ nhịp được. Ngược lại, khi
bàn tay phải cầm đũa nhịp làm mất đi phần lớn sức
diễn tả của bàn tay phải, thì những lúc cần thiết, tay trái
phải phụ thêm để tăng phần diễn tả của đũa nhịp.
b.
Giữ nhịp cùng
diễn tả
Một
số ca nhạc trưởng khác [23]-và
càng ngày càng có nhiều người- quan niệm việc giữ nhịp và
diễn tả là công việc không những của cả đôi tay, mà còn
của cả thân mình. Cả hai tay, vừa có thể cùng giữ nhịp,
vừa có thể cùng diễn tả : khi thì cả hai tay phác hoạ đường
nét đối xứng, khi thì hai tay diễn tả khác nhau tuỳ theo
từng bè, khi thì không những hai tay giúp hai bè khác nhau, mà
đầu với đôi mắt cũng tham gia để giúp một bè thứ ba
...Nói chung, không có một sự phân công máy móc và cố định
tiên thiên. Trái lại giữ
nhịp cùng diễn tả là
những công việc cần thiết được toàn con người ca nhạc
trưởng đảm nhận một cách sống động để giúp ca nhạc
viên cùng sống bản nhạc với mình. Nhạc trưởng Leonard
Bernstein viết : “Có một ý
tưởng cổ xưa (và điên rồ) nói rằng tay phải chỉ việc
giữ nhịp (đánh nhịp), trong khi tay trái lo diễn tả cảm xúc.
Điều đó hoàn toàn vô nghĩa. Không người điều khiển nào
có thể tự chia mình ra làm hai người, một người giữ
nhịp và một người diễn tả (đóng vai trò thông ngôn giữa
tác giả với thính giả). Sự diễn tả luôn luôn phải ở
ngay chính trong việc giữ nhịp”.[24]
3.3.
Quan niệm điều khiển lý tưởng là “giúp người khác cùng
sống bản nhạc với mình.”
Quan
niệm này không muốn phát xuất từ việc dung hoà hai công
việc giữ nhịp và diễn tả, tuy nó cũng nằm trong chiều hướng
đó, nhưng phát xuất từ việc người ca nhạc trưởng, một
khi hiểu được tác giả và tác phẩm, cố gắng nắm bắt
được cái hồn của bản nhạc, thì sẽ làm cho bản nhạc
trở nên sống động, diễn cảm. Nói cách khác là chính mình
sẽ sống bản nhạc đó và giúp ca nhạc viên - bằng tất
cả các phương tiện của ngôn ngữ thầm lặng - cảm nhận
bản nhạc đó như mình, cùng
sống bản nhạc đó với mình.
Về
việc giúp ca nhạc viên,
chúng ta đã bàn ở phần trên (2.1).
Về
việc sống bản
nhạc bằng một lối trình
tấu sống động, bằng cách dùng tất cả các phương tiện
diễn đạt sẵn có của ca nhạc trưởng, chúng ta có thể rút
ra một số kết luận sau:
a.
Đã là sống bản nhạc,
thì không đặt vấn đề dùng một tay hay cả hai tay, có khi
cần không những cả hai tay, mà cả tư thế, cả đầu, cả
mắt, cả miệng để sống cái cảm xúc mãnh liệt nào đó. Có
khi chỉ cần ánh mắt, với bàn tay nhẹ nhàng, kín đáo để
sống một cảm xúc khác sâu kín, trầm lặng ..[25]
Nói chung, điều khiển có sự tham gia của cả hai tay, có
vẻ trân trọng và khiêm tốn hơn.
3.2.
Đã là sống bản nhạc,
đặc biệt bản nhạc có lời ca, thì không thể nào cấm ca
trưởng cùng hát với ca viên. Trừ một số trường hợp không
nên hát ra to tiếng (xem phần I số 3.2.), còn lại thì ca trưởng
cùng sống bản nhạc với ca viên bằng cách cùng hát với
họ. Khi trình tấu thực thụ, chúng ta không còn có khả năng
để sửa lại những gì ca viên đã hát rồi. Thành ra lúc này
mà còn im lặng để lắng nghe, thì những gì mình nghe thấy
chưa vừa ý nó đã đi qua rồi không kịp sữa chữa nữa .
Cho nên vấn đề lúc trình tấu là làm sao tập trung cho
ca viên hướng về mình và giúp họ cùng sống với mình,
với tất cả những nhắc nhở, dặn dò,
khuyến khích .….. thuộc phạm vi trách nhiệm của mình
theo phương châm “báo trước kịp thời, mời gọi đúng lúc”.
Có người cho rằng khi ca trưởng hát, không thể nghe
được ca đoàn, đó là một xác quyết hàm hồ. Có thể là
không lắng nghe được một cách thật tinh tế, nhưng vẫn
nghe được kẻ khác hát, vẫn biết được người bên cạnh
mình hát sai, hát quá lớn, hát trật nhịp ... Nghe tinh tế dành
cho lúc tập dượt để sữa chữa uốn nắn. Lúc trình tấu,
cần cùng sống với ca đoàn, có lắng nghe thì việc cũng đã
rồi. Còn hát với ca đoàn thì có rất nhiều lợi ích như chúng
ta đã xét qua ở phần trên (1.3.b)
c.
Đã là sống bản nhạc,
thì cũng không câu nệ có nên dùng đũa nhịp hay không :
Nhiều nhạc trưởng có lúc bỏ đũa nhịp, dùng bàn tay để
tăng mức diễn cảm hơn (xem 1.2.d).
Có
một số ca trưởng, thay vì cầm đũa nhịp, lại cầm thanh
cữ (diapason) để điều khiển. Như vậy là đánh mất cả chì
lẫn chài : vừa đánh mất sự rõ ràng và trang trọng của
đũa nhịp, vừa đánh mất khả năng diễn cảm của bàn tay.
Như
vậy, để giúp người khác cùng sống bản nhạc với mình,
chính người ca nhạc trưởng không những phải hiểu biết và
tập luyện nhiều để sống bản nhạc đó một cách thật
hữu hình đến nỗi người khác nhìn vào có thể cảm nhận
được điều gì toát ra từ ngôn ngữ thầm lặng đó, mà còn
phải học tập để biết giúp người khác có thể cùng chia
sẻ cảm nhận đó với mình. Có thế mới mong đạt được
phần nào nghệ thuật điều khiển lý tưởng.
š ± ›
Tóm
lại,
chúng ta đã xét qua các phương tiện diễn đạt làm thành ngôn
ngữ thầm lặng của ca nhạc trưởng, cùng với các tính
chất hữu hiệu, đẹp mắt và có ý nghĩa của chúng.
Xét
về phương diện diễn đạt bằng ngôn ngữ thầm lặng thì
không ai có thể hơn được người diễn viên kịch câm :
“Nghệ
thuật kịch câm hiện đại, trước hết, đó là sự đồng
nhất hoá.. Khi diễn tả nước, diễn viễn kịch câm như
biến thành con cá. Khi thể hiện gió, người diễn viên hoá
thành bão tố. Nếu như anh ta cần phải thể hiện lửa, thì
thân thể anh ta trở thành ngọn đuốc. Còn nếu muốn diễn
tả cảm xúc, anh ta phải trở nên khao khát mãnh liệt.” [26]
Tuy
người ca nhạc trưởng không phải là một diễn viên kịch câm,
nhưng có nhiều điểm chung giống như họ, đó là chỉ dùng các
phương tiện sẵn có trên con người mình để diễn tả,
những tình ý rất đa dạng, mà không dùng đến lời nói. Người
ca nhạc trưởng không phải là những người đơn độc trong
lãnh vực dùng ngôn ngữ thầm lặng để diễn đạt. “Nếu
muốn diễn tả cảm xúc”, ca nhạc trưởng “phải trở nên
khao khát mãnh liệt”, khao khát học tập, khao khát trau dồi,
khao khát tìm tòi, khao khát diễn tả, khao khát sống và giúp
người khác cùng sống âm nhạc với mình.
{
Các
Câu HỎI
Ôn TẬp
1.
Bạn hiểu thế nào về quan niệm điều khiển của cố ca trưởng
Hải Linh ?
2.
Ý nghĩa của tư thế trong ngôn ngữ thầm lặng của ca trưởng
?
3.
Sức diễn tả của cánh sau và cánh trước ?
4.
Sức diễn tả của bàn tay và các ngón tay
5.
Vai trò của đũa nhịp ?
6.
Tầm quan trọng của đôi mắt, đôi môi ?
7.
Thế nào là cử chỉ hữu hiệu và đẹp mắt ?
8.
Thế nào là cử chỉ có ý nghĩa ?
9.
Các quan niệm về điều khiển ? Đâu là quan niệm lý tưởng
?
10.
Ích lợi của việc cùng hát với ca đoàn ?
[12]
Xem thêm Leonard Bernstein, The Joy of Music, N.Y. 1967. Chương
bàn về Nghệ thuật điều khiển, trang 149. [Back]
[13]
Max
Rudolf, trong The Grammar of Conducting, New York 1980, tr.xvi, cũng
quan niệm tương tự khi viết: “Một
khi làm chủ được các kỹ thuật điều khiển, người
nghệ sĩ sẽ diễn tả một cách thật đơn giản tự nhiên,
đó là mục tiêu của mọi việc trình tấu có nghệ thuật.
Đối với ca nhạc trưởng, điều này có nghĩa là các cử
chỉ của mình phải trở thành bản tính thứ hai và người
điều khiển. có thể hoàn toàn phó mình cho âm nhạc làm
chủ mình”
[Back]
[14]
“Ngay
cả trong nghệ thuật giao hưởng, nhiều nhạc trưởng nổi
tiếng bắt đầu cắt đứt với truyền thống và không dùng
đũa nhịp”.
Pierre
Kaelin, SĐD tr. 98, số 282. Xem thêm Harry Robert Wilson, Artistic
choral singing, N.Y. 1959, tr. 18.
[Back]
[17]
Xem
Leonard Bernstein, SĐD, tr. 149. [Back]
[18] Đó là chưa nói đến việc chuẩn bị xa như huấn luyện, tập dượt… [Back]
[20]
violin-conductor,
xem Leonard Berstein SĐD tr. 121-122..
Xem thêm Harold C. Schonberg, The Great Conductors, Simon and Schuster,
New york 1967, tr.25-31 (Maestro al cembalo: người điều khiển
tại đàn phím [Back]
[21]
Từ
đầu thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19, có hiện tượng
“phân công lãnh đạo” (divided leadership) giữa trưởng bè
violon và người chơi đàn phím: Cả hai đều chơi đàn cùng
với dàn nhạc, nhưng người chơi đàn phím (đàn clavicô, đàn
organô, hoặc sau này là đàn pianô) thường giúp khởi tấu
và giữ nhịp bằng tiếng đàn của mình, còn người bè trưởng
violon thì dẫn dắt chung, có khi bằng vĩ kéo của mình.(H.C.Schonberg,
SĐD, tr.31). Đến đầu thế kỷ 19, khỏang 1810-1820,
Ludwig SPOHR là người
có ảnh hưởng lớn trong việc phổ biến “đũa chỉ
huy”, và việc điều khiển dần dần được thâu tóm vào
một người duy nhất đứng trước dàn nhạc điều khiển mà
không tham gia chơi đàn, đó là nhạc trưởng chuyên
nghiệp.(tr.83-86).
[Back]
[22]
Harry
Robert Wilson, SĐD, tr. 11 : “Điều
khiển là một nghệ thuật thuộc loại trình tấu. Nó đòi
hỏi nhiều hơn là việc giữ nhịp. Nó là nghệ thuật
diễn tả âm nhạc thông qua các mẫu phác hoạ tiết tấu, tư
thế của thân thể và sắc thái của nét mặt”.
[Back]
[23] Xem Pierre Kaelin, SĐD, tr. 98 số 28 [Back]
[24]
Nguyên
văn : “There is an old-wives
tale which says that the right hand should simply beat time, while the
left hand is in charge of expressing emotion. This is sheet nonsense. No
conductor can divide himself into two people, a time-beater and an
interpreter.” SĐD, tr. 131.
[Back]
[25]
Xem
Harry Robert Wilson, SĐD, tr. 29-30
“Look like the music !” ... “Let the music tell your arms where to
go.”
[Back]
[26]
Marcel
Marceau, vua kịch câm, tr. 23
[Back]